26/12/2008

Cơ cấu giống lúa hiệu quả cho ĐBSCL.



GS.TS. Nguyễn Văn Luật

TIN KHOA HỌC. Theo Trung tâm Khảo Kiểm nghiệm Giống Cây trồng Quốc gia, trong 10 giống lúa chiếm diện tích rộng nhất vùng ĐBSCL năm 2007 thì IR50404 đứng đầu cả ba vụ, giống OM576 (Hình trên)) trong vụ Đông Xuân đứng thứ năm, sang vụ Hè Thu đứng thứ ba, và ở vụ Thu Đông đứng thứ nhì. Giống mới ở hạng “top ten” được sử dụng trong vụ thu đông 2007 thường được lấy hạt giống cho vụ tiếp là IR50404 chiếm 13% diện tích, OM576 (7,8%), OM2517, Jas’mine85, OM1490, VND95-20, OM2717, OM3536, OM4498, OMCS2000. Theo anh Tư Bình, Giám đốc Sở Nông nghiệp và PTNT Trà Vinh, vụ thu đông- vụ mùa 2008-09, bà con nông dân Trà Vinh đang xuống giống theo kế hoạch là 93.100 ha. Giống lúa dùng trong vụ này chủ yếu vẫn là những giống IR50404, OM576, mặc dầu có những mong muốn loại hai giống trên vì khó bán, giá thấp, thiệt thòi cho bà con nông dân. Tuy nhiên, thiện chí trên cần có lộ trình thực hiện, trước hết bởi vì chưa có đủ giống tôt khác thay thế; và khi một giống mới được mở rộng diện tích sử dụng, không phải giống nào cũng giữ được đặc tính tốt mong muốn. GS.TS. Nguyễn Văn Luật đã trao đổi về cơ cấu giống lúa hiệu qủa cho ĐBSCL


Có hai vấn đề bức xúc về khâu giống cho sản xuất lúa ở ĐBSCL là: 1./ Muốn tập trung mở rộng diện tích làm giống lúa thơm đặc sản mà lại thiếu giống. Hơn nữa, chưa ai dám chắc rằng mở rộng đến mức nào, 20% hay 30% diện tích thì sẽ tạo điều kiện bột phát sâu bệnh, vì giống lúa thơm thường yếu chịu sâu bệnh, như Jas’min, Khaodokmali, OMCS21.., và các giống cổ truyền như Nàng thơm Chợ Đào, Tài nguyên đục..Khi bà con nông dân ta “ồ ạt” đua nhau mở rộng diện tích lúa thơm, liệu năng suất và sản lượng có ổn định không, giá cả sẽ ra sao khi ế hàng dội chợ; vì yêu cầu của thị trường với gạo thơm hạn chế; nhất là ở thị trường tiềm năng như Châu Phi; 2./ diện tích sử dụng giống IR50404 và OM576 đứng thứ nhất nhì ở nhiều nơi, thóc đang bị “ế ẩm” vì thương lái cho là gạo có chất lượng không cao. Tuy nhiên, chưa có mô hình sản xuất đại trà nào trong điều kiện sản xuất và thị trường bình thường nhằm giới thiệu những giống lúa thay thế một cách thuyết phục hai giống lúa đứng thứ nhất nhì về diện tích sử dụng trên. Tỷ lệ sử dụng hai giống lúa trên vừa qua ở nhiều địa phương, như Trà Vinh, Tiền Giang.., chiếm tới 60% - 70% mà vẫn cho năng suất ổn định và cao. Nếu thay bằng giống khác, liệu có giữ được sản lượng ổn định như khi có hai giống trên hay không. Hơn nữa, người nông dân khi dùng hai giống trên thì giá bán chỉ thua các giống khác có vài trăm ngàn, nhưng do năng suất cao hơn có khi tới hàng tấn 1 ha, lại ít sâu bệnh, nên vẫn lời.

Cục Trồng trọt của Bộ Nông nghiệp và PTNT, các đơn vị nghiên cứu liên quan và ngành nông nghiệp đã có những khuyến cáo cho sản xuất cho vụ ĐX 2008-09. Những khuyến cáo trên được đúc rút từ nhiều nguồn thông tin, cụ thể với từng vùng, tùng vụ. Bà con nông dân ĐBSCL đang xuống giống lúa, cần tiếp cận nhanh với những khuyến cáo thiết thực. Tuy nhiên, không còn mấy thời gian để cải thiện nhanh bộ giống lúa vụ này. Để tiến tới một cơ cấu giống lúa hiệu quả cao cho các vụ tới, cần có một chiến lược với bước đi thích hợp, đầu tư thỏa đáng, và một cách tiếp cận khách quan thực tế sản xuất để có khuyến cáo thuyết phục.

Xin đơn cử trường hợp sản xuất lúa ở tỉnh Trà Vinh, là tỉnh mà các năm qua tôi có nhiều dịp qua lại trong phạm vi một số dự án giúp nông dân sản xuất. Trà Vinh là một tỉnh ven biển, là một trong vài tỉnh có điều kiện sản xuất khó khăn nhất ở ĐBSCL, cũng thuôc vùng xa vùng sâu, vùng có nhiều người dân tộc. Cũng như nhiều tỉnh bạn, sản xuất lúa năm qua thắng lợi lớn, đạt sản lượng thóc cao nhất từ trước đến nay, khoảng 1,1 triệu tấn.

Theo anh Tư Bình, Giám đốc Sở Nông nghiệp và PTNT, kết quả sản xuất các vụ kế tiếp như sau: Vụ Thu- Đông (71,500 ha) năm 2007-08 bằng giống lúa mới cao sản + vụ mùa (18,800 ha) bằng giống cổ truyền, đạt năng suất bình quân 4,38t/ha, với các giống lúa: OM576 (30% diện tích); IR50404 (30%); VND95-20 (10%); OM4498 (10%); Tài nguyên đục (8%), ST5 (3%); còn 8% bằng nhiều giống lúa khác. Vụ đông xuân 2007-08 (53.748 ha) đạt năng suất bình quân 5,48t/ha, cũng đạt cao nhất trong 3 vụ, với các giống IR50404 (40%); OM756 (30%); VND95-20 (15%); OM4498 (3%); OM 1490 (3%). Vụ hè thu 2008 có 82.892 ha, đạt năng suất 4,77t/ha, bằng những giống lúa: IR50404 (35%); OM576 (30%); VND95-20 (15%); OM4498 (5%); CL 8 (5%).Vụ thu đông- vụ mùa 2008-09, bà con nông dân Trà Vinh đang xuống giống theo kế hoạch là 93.100 ha. Giống lúa dùng trong vụ này chủ yếu vẫn là những giống kể trên, mặc dầu có những mong muốn loại hai giống trên vì khó bán, giá thấp, thiệt thòi cho bà con nông dân. Tuy nhiên, thiện chí trên cần có lộ trình thực hiện, trước hết bởi vì chưa có đủ giống tôt khác thay thế; và khi một giống mới được mở rộng diện tích sử dụng, không phải giống nào cũng giữ được đặc tính tốt mong muốn. Người nông dân không dễ tiếp nhận ngay, vì bà con chọn dùng giống nào đâu cần biết của ai, từ đâu.

Kết quả sản xuất năm 2008 vừa nhận được: giống IR50404 được sử dụng trên 246.508ha chiếm 16,14%, trong đó Hậu Giang 15.205ha, Long An 9.491 ha, Cần Thơ 8.8507ha, Sóc Trăng 8.507ha, Bến Tre 1.240ha.. Giống OM 576 đạt diện tích 37.797ha ở Vĩnh Long, 15.771ha ở Kiên Giang, Cà Mau 15.583, Long An 9.069ha, Bặc Liêu 3.749ha, Tiền Giang 2.870 ha, Đồng Tháp 350ha.

Giống lúa IR50404 nhập từ Viện Lúa Quốc tế, do những ưu điểm ngắn ngày và dễ sản xuất, nhiều cơ quan đã nghiên cứu từ cuối thập kỷ 80, đến 1992 thì được công nhận giống cho sản xuất do Viện Khoa học Kỹ thuật Nông nghiệp Miền Nam giới thiệu. Đến nay, đã có ba lần xuất khẩu gạo khó, cũng là ba lần IR50404 bị phê phán “lên bờ, xuống ruộng” do khó bán, đến mức có vị đề nghị truy cứu trách nhiệm cơ quan và ai là người giới thiệu. Tuy nhiên, sau hai lần trước, diện tích sử dụng giống này có giảm, rồi lại tiếp tục ngóc lên đứng hàng thứ nhì, thứ nhất về diện tích sử dụng ở ĐBSCL theo thống kê của cơ quan chức năng, mặc dầu không nằm trong những giống được khuyến cáo trước mỗi vụ, hay việc sử dụng giống IR50404, OM576 và các giống lúa khác là do nông dân đã tự cân nhắc và quyết định.

Giống lúa OM576 lai tạo bởi kỹ sư Kiều Thị Ngọc (nay là tiến sỹ), được Viện Lúa ĐBSCL giới thiệu vào sản xuất từ cuối thập kỷ 80 thế kỷ trước. Thật ra, sau khi phóng thích chúng tôi quên luôn giống này. Chính bà con nông dân ở tỉnh Minh Hải lúc đó đã tự mở rộng diện tích sử dụng giống này từ những cánh đồng có nhiều lung đìa, và tự đặt tên là giống “Hầm trâu”, vì có nơi phát triển tốt ngay ở hầm (vũng) trâu đầm. Từ đó, lan rộng ra các tỉnh.

Vào 9, 10 năm trước đây, TT Khảo Kiểm nghiệm cây trồng Quốc gia cùng với các địa phương điều tra thống kê các giống lúa dùng trong sản xuất đại trà, và xác định 10 giống lúa chiếm diện tích rộng nhất từ cao xuống thấp ở ĐBSCL theo thứ tự sau: OM1490, IR50404, OM576, OMCS2000, VND95-20, IR64, AS996, MTL250,. OM2031, Jas’mine.
Cũng theo Trung tâm này, trong 10 giống lúa chiếm diện tích rộng nhất vùng ĐBSCL năm 2007, thì IR50404 vẫn đứng đầu cả ba vụ, giống OM576 trong vụ Đông Xuân đứng thứ năm, sang vụ Hè Thu thứ ba, và ở vụ Thu Đông đứng thứ nhì. Giống mới ở hạng “top ten” được sử dụng trong vụ Thu Đông 2007, thường được lấy hạt giống cho vụ tiếp là: IR50404 chiếm 13% diện tích, OM576 (7,8%), OM2517, Jas’mine85, OM1490, VND95-20, OM2717, OM3536, OM4498, OMCS2000.

Cần đầu tư cho việc thống kê diện tích sử dụng giống lúa như trên nhằm cung cấp thông tin thiết thực kịp thời cho nông dân, cho cán bộ chỉ đạo sản xuất, và cho cả nhà tạo chọn giống mới. Việc này càng cần thiết với các địa phương. Nhiều Sở Nông nghiệp đã làm, như Sở Nông nghiệp Trà Vinh đã nêu trên.

Từ hơn hai thập kỷ qua, những khuyến cáo giống lúa cho sản xuất theo các mức độ: các giống chủ lực, giống bổ sung, và giống triển vọng. Trong số hàng trăm giống sản xuất đại trà, những giống được xếp thứ hạng cao thường trải qua “thử thách nhiều vụ”, nhất là những giống được tồn tại lâu trong sản xuất như hai giống trên, giống IR64 được phóng thích từ giữa thập kỷ 80, giống OMCS2000 từ năm 2000.

Nhìn qua giá gạo bán lẻ cũng thấy để nâng cao hiệu quả cơ cấu giống lúa phải theo hướng giảm thiểu diện tích IR50404 và OM576. Hiện nay, cuối tháng 11, gạo IR50404 có giá 4.300-4.500 đ/kg, OM576 có giá 6.200 đ/kg; trong khi giá 1 kg gao Jas’mine (bảng ghi gạo thơm Mỹ) là 10 – 12.000 đ.; gạo VD20 (thơm Đài Loan) 15.000đ.. Để tăng hiệu quả cơ cấu giống lúa, ngoài việc đẩy mạnh việc tạo chọn và chuyển giao vào sản xuất giống lúa mới, cần có đề tài phục tráng những giống được dùng lâu dài trong sản xuất đại trà như IR50404 và OM576.

Trong chuyến đi An Giang vừa qua, tôi được Giám đốc Trung tâm Khuyến nông Huỳnh Hiệp Thành dẫn đến cơ sở sản xuất kinh doanh giống lúa của anh Nguyễn Thiện Tâm ở Tri Tôn, được xem bông lúa, hạt lúa, hạt gạo và ăn cơm gạo IR50404 trắng hơn, dẻo hơn, do An Giang phục tráng cải thiện.

20/12/2008

Trang thông tin LÚA GẠO



TIN KHOA HỌC. Chào mừng các bạn đã đến với trang LÚA GẠO của Nguyễn Chí Công. Đây là trang thông tin chuyên đề học và hành về lúa lai,lúa thuần. Nội dung gồm: giống lúa mới triển vọng, kỹ thuật canh tác lúa, công nghệ sản xuất giống lúa, điểm tin sản xuất thị trường lúa gạo thế giới và Việt Nam. Trang LÚA GẠO được liên kết chặt chẽ với các trang CÂY LƯƠNG THỰC, DẠY VÀ HỌC, HỌC MỖI NGÀY, TIN KHOA HỌC, CASSAVAVIET của TS. Hoàng Kim Trường Đại học Nông Lâm thành phố Hồ Chí Minh. Mục tiêu nhằm kết nối giảng dạy và nghiên cứu khoa học với thực tiễn sản xuất; liên kết các nhóm quan tâm trong nghiên cứu và phát triển lúa gạo. Tin mới cập nhật tuần này: Gieo mạ né rầy, giải pháp kỹ thuật hữu hiệu . Sạ hàng lúa bằng giàn kéo tay hiệu qủa kinh tế rõ. Giống lúa lai cao sản Nhị ưu 986 tại Nghệ An. Hai mươi giống lúa mới cho Nam Trung Bộ và Tây Nguyên. Khôi phục đồng lúa do tôm sú lấn (xem chi tiết)

GIEO SẠ NÉ RẦY - GIẢI PHÁP KỸ THUẬT HỮU HIỆU
Giải pháp xác định thời điểm gieo sạ lúa để né rầy (thường gọi là giải pháp “né rầy”) là một trong những giải pháp phòng, tránh rầy nâu (RN) lan truyền virus gây bệnh vàng lùn, lùn xoắn lá (VL-LXL) hại lúa, nhưng là giải pháp cơ bản. Giải pháp “né rầy” gồm thực hiện đồng bộ nhiều biện pháp: bẫy đèn, thời điểm xuống giống, dùng nước che chắn cây lúa non,...đã giúp cho cây lúa tránh được sự xâm nhiễm của virus mầm bệnh VL-LXL từ RN khi cây lúa dưới 30 ngày tuổi.

Cơ sở khoa học của giải pháp này là dựa vào đặc tính di cư của RN theo từng đợt cách nhau khoảng 28 đến 30 ngày, được phát hiện và dự báo bằng bẫy đèn. Cây lúa chỉ bị bệnh VL-LXL gây hại nặng khi RN mang mầm bệnh tấn công vào giai đoạn lúa còn nhỏ; cây lúa sau 30 ngày có khả năng tự đền bù hầu hết các thiệt hại bằng cách ra lá mới, chồi mới thay thế chồi bị thiệt hại.

Ứng dụng giải pháp “né rầy” tại ấp Đồn (xã Trung Lập Hạ, huyện Củ Chi, thành phố Hồ Chí Minh) đã mang lại hiệu quả thực sự cho sản xuất lúa. Thành công liên liếp trong cả 2 năm, lúa trúng mùa, đồng ruộng không có diện tích lúa thiệt hại do bệnh vàng lùn, lùn xoắn lá (VL-LXL), nông dân ấp Đồn sẽ tự tin ứng dụng giải pháp “né rầy” trong việc phòng chống RN, bệnh VL,LXL. Đó là vấn đề đúc rút tại Hội thảo giải pháp “né rầy” do Chi cục Bảo vệ thực vật (BVTV) tổ chức tại Ấp Đồn vào ngày 04/12/2008.
Hội thảo đã nghe Trạm BVTV huyện Củ Chi, Trưởng ấp Đồn và một số nông dân báo cáo tình hình sản xuất, tình hình RN trưởng thành vào đèn và trình bày kết quả ứng dụng giải pháp né rầy tại ấp Đồn.

Ấp Đồn có diện tích sản xuất lúa lớn nhất xã Trung Lập Hạ (250 ha/540 ha), vùng này có hệ thống kênh Đông hoàn chỉnh nên nông dân thâm canh liên tục 3 – 4 vụ/năm và cây lúa là nguồn thu nhập chính của người dân. Trong vụ lúa Mùa năm 2006, nông dân ấp Đồn phải lao đao vì nhiều cánh đồng vài chục ha mất trắng do bệnh VL-LXL. Đến nay, bệnh VL-LXL vẫn tiếp tục tàn phá nhiều cánh đồng lúa ở thành phố Hồ Chí Minh nhưng tại ấp Đồn - nằm trong vùng có nguy cơ thiệt hại nặng do bệnh VL-LXL - không có thiệt hại đáng kể.



Thời điểm nông dân ấp Đồn gieo sạ”né rầy”

Tại hội thảo, nông dân ấp Đồn giải thích, trước đây (lúa Mùa 2006) trong một cánh đồng thời vụ kéo từ cuối tháng 6 đến giữa tháng 8; từ năm 2007 đến nay, cụ thể là vụ Mùa năm 2008, nhờ ứng dụng giải pháp “né rầy”, 72 hộ nông dân đã không xuống giống trong tháng 7 và đã gieo sạ tập trung từ ngày 15/ 8 đến ngày 20/ 8/ 2008.
Nhờ đó lúa non không nhiễm RN di trú và kết quả hơn 120 ha lúa Mùa xuống giống theo lịch né rầy nên không có diện tích thiệt hại do bệnh VL-LXL và đạt năng suất cao./.

KS. Nguyễn Thị Lệ Thoa (CCBVTV thành phố)
Bài đã đăng tại: http://www.mard.gov.vn/ppdhcmc/html/tinktmoi/nam%202008/ttKHKmoi-bphap%20gieosa%20neray.htm

SẠ HÀNG LÚA BẰNG GIÀN KÉO TAY HIỆU QU3A KINH TẾ RÕ

Nhằm giải phóng sức lao động cho nông dân, vụ mùa vừa qua Trạm khuyến nông huyện Lục Nam, Bắc Giang đã hỗ trợ 50 chiếc máy sạ hàng lúa bằng giàn kéo tay cho 50 hộ nông dân trong 10 xã của huyện, mỗi chiếc là 500 nghìn đồng (bằng 50%).

Với hơn 100 ha được sạ hàng bằng giàn kéo tay so với phương pháp cấy truyền thống thì ưu điểm nổi bật của phương pháp này là: Trong cùng một ngày gieo cấy, sạ hàng bằng giàn kéo tay lúa chín sớm hơn từ 4-5 ngày, sâu bệnh ít, bông lúa dài hơn, tỷ lệ hạt chắc trên bông cao do đó năng suất tăng. Trong vụ đông xuân tới Trạm Khuyến nông tiếp tục hỗ trợ bà con, nhân rộng mô hình này.

(Theo: nongnghiep.vn)

ỨNG DỤNG ICM, GIÁ TRỊ MỘT HECTA LÚA TĂNG THÊM 1,5 TRIỆU ĐỒNG

Qua 2 vụ sản xuất nông nghiệp năm 2008, Chi cục Bảo vệ thực vật Quảng Nam đã hướng dẫn cho 250 lượt hộ nông dân triển khai thực hiện chương trình ICM (3 giảm, 3 tăng) trên 5 cánh đồng lúa với tổng diện tích 25 ha. Không chỉ giảm chi phí đầu tư, nâng cao chất lượng sản phẩm mà giá trị kinh tế tăng bình quân 1,5 triệu đồng/ha so với những ruộng lúa không áp dụng chương trình này. Được biết, từ đầu năm đến nay, Chi cục BVTV tỉnh cũng đã tổ chức tập huấn kỹ thuật, giúp 200 hộ nông dân khác xây dựng 8 mô hình canh tác theo chương trình IPM cho hiệu quả kinh tế cao, nhất là trên cây dưa hấu, cà tím, đậu phụng...

(Theo: nongnghiep.vn)

GIỐNG LÚA LAI CAO SẢN NHỊ ƯU 986 TẠI NGHỆ AN

Giống lúa lai Nhị ưu 986 đã được Bộ NN&PTNT công nhận tạm thời là giống lúa lai chất lượng tốt cả về năng suất và tính chống chịu sâu bệnh ngày 24/12/2007.

Đánh giá về giống lúa lai này, TS Phạm Đồng Quảng, Cục phó Cục Trồng trọt cho biết: Giống Nhị ưu 986 được đưa vào khảo nghiệm tại nhiều địa phương ở miền Bắc từ vụ xuân 2006, trong đó có địa bàn tỉnh Nghệ An và nó đã được nhìn nhận là một trong những giống lúa mới có triển vọng. Nhị ưu 986 sinh trưởng, phát triển khá. Thời gian sinh trưởng tương đương với giống Nhị ưu 838, nhưng cho năng suất bình quân cao hơn, chống chịu sâu bệnh tốt hơn.

Ông Nguyễn Sỹ Hưng, Phó chủ tịch UBND huyện Yên Thành, Nghệ An cho biết: Giống lúa lai Nhị ưu 986 được đưa vào khảo nghiệm tại huyện trọng điểm lúa Yên Thành từ năm 2005 đến nay đã được 3 năm. Nhị ưu 986 được bà con nông dân ở đây đánh giá là giống lúa lai ưu việt trên đồng đất Yên Thành với nhiều ưu điểm nổi trội về năng suất (bình quân trong 2 năm 2006 và 2007 từ 8 đến 9 tấn/ha/vụ). Nhị ưu 986 thích ứng rộng, có thể gieo cấy được 3 vụ/năm. Đây cũng là một giống lúa chịu rét và chống đổ tốt, chống chịu sâu bệnh và chất lượng gạo ngon hơn Nhị ưu 838.

Bởi thế, trong năm 2008, riêng giống lúa Nhị ưu 986 được huyện Yên Thành đưa vào kế hoạch sản xuất thử lớn nhất của huyện (4.000 ha). Bà Hoàng Thị Hương, Phó chủ tịch UBND huyện Diễn Châu cũng cho biết: Giống lúa Nhị ưu 986 có nhiều ưu điểm vượt trội hơn so với giống lúa Nhị ưu 838 và Nhị ưu 63...

Đây là lý do giải thích vì sao diện tích lúa Nhị ưu 986 đã tăng nhanh trên địa bàn huyện Diễn Châu trong cả vụ xuân và vụ hè thu của 2 năm 2007 và 2008. Ông Phan Đình Hà, Phó chủ tịch UBND huyện Thanh Chương: Nhị ưu 986 cho năng suất bình quân cao nhất trong các giống lúa lai được gieo cấy tại Thanh Chương các năm qua (8 tấn/ha/vụ). Đây là giống lúa lai cao sản, đề nghị Bộ NN-PTNT công nhận chính thức để các địa phương yên tâm đưa vào cơ cấu chính thức.

Theo Thanh Mai (bài đã đăng tại: http://nongnghiep.vn/nongnghiepvn/vi-VN/61/158/2/2/2/25063/Default.aspx)

20 GIỐNG LÚA MỚI CHO NAM TRUNG BỘ VÀ TÂY NGUYÊN

Kết quả khảo nghiệm VCU trong 3 năm 2006-2008 gồm 205 giống lúa (149 giống lúa thường, 56 giống lúa lai), đã xác định được 20 giống lúa mới có nhiều triển vọng kháng rầy nâu trung bình (cấp 5-7) như sau:

1. Giống CH209 (lúa chịu hạn): Thời gian sinh trưởng (TGST) 110-118 ngày (ĐX); 94-98 ngày (HT). Năng suất trung bình (TB) 68 tạ/ha, thâm canh đạt 80 tạ/ha. Ít nhiễm rầy nâu (cấp 5), nhiễm TB bệnh đạo ôn (cấp 7); chống đổ khá, chịu hạn khá. Thích hợp gieo sạ vụ ĐX và HT tại Duyên hải Nam Trung bộ (DHNTB).

2. Giống CH207 (lúa chịu hạn): TGST 125-127 ngày (ĐX); 115-119 ngày (HT). Năng suất TB 67 tạ/ha, thâm canh đạt 82 tạ/ha. Ít nhiễm rầy nâu (cấp 5), ít nhiễm bệnh đạo ôn (cấp 5); chống đổ tốt, chịu hạn khá. Thích hợp gieo sạ vụ ĐX và HT tại DHNTB.

3. Giống ML 202: TGST 105-108 ngày (ĐX) và 90-94 ngày (HT). Năng suất TB 65 tạ/ha, thâm canh đạt 81 tạ/ha. Chất lượng gạo trung bình khá, cơm ngon TB. Nhiễm rầy nâu trung bình (cấp 5-7), ít nhiễm bệnh đạo ôn (cấp 5); chịu hạn khá, chống đổ trung bình. Thích hợp vụ ĐX và HT tại DHNTB và Tây Nguyên.

4. Giống ML203: TGST 107 ngày (ĐX) và 96 ngày (HT). Năng suất TB 67 tạ/ha, thâm canh đạt 80 tạ/ha. Chất lượng gạo khá. Nhiễm rầy nâu trung bình (cấp 5-7); ít nhiễm bệnh đạo ôn cổ bông (cấp 3); chống đổ khá. Thích hợp gieo cấy vụ ĐX và HT tại các tỉnh DHNTB và Tây Nguyên.

5. Giống VN 124: TGST 113-118 ngày (ĐX) và 95-100 ngày (HT). Năng suất TB 66 tạ/ha, thâm canh 80 tạ/ha. Chất lượng gạo tốt, cơm ngon. Nhiễm nhẹ rầy nâu (cấp 5), nhiễm bệnh đạo ôn trung bình (cấp 7); chống đổ khá, chịu hạn. Thích hợp vụ ĐX và HT tại DHNTB và Tây Nguyên.

6. Giống VN121: TGST 107 ngày (ĐX) và 96 ngày (HT). Năng suất TB 68 tạ/ha, thâm canh 80 tạ/ha. Nhiễm rầy nâu trung bình (cấp 5-7); ít nhiễm bệnh đạo ôn (cấp 5); chống đổ trung bình. Thích hợp vụ ĐX và HT tại DHNTB và Tây Nguyên.

7. Giống ĐB6: TGST 105-110 ngày (ĐX) và 95-97 ngày (HT). Năng suất TB 60 tạ/ha, thâm canh đạt 75 tạ/ha. Nhiễm rầy nâu (cấp 5-7), nhiễm bệnh đạo ôn trung bình (cấp 5-7); cứng cây chống đổ khá. Thích hợp vụ ĐX và HT tại DHNTB và Tây Nguyên.

8. Giống TBR1: TGST 110-115 ngày (ĐX) và 95-100 ngày (HT). Năng suất TB 65 tạ/ha, thâm canh đạt 80 tạ/ha. Nhiễm rầy nâu TB (cấp 5-7); ít nhiễm bệnh đạo ôn (cấp 5); cứng cây chống đổ khá. Thích hợp vụ ĐX và HT tại DHNTB và Tây Nguyên.

9. Giống P13 (lúa chất lượng): TGST 125 ngày (ĐX) và 105 ngày (HT). Cây cao trung bình 91,2 cm; đẻ nhánh khá. Năng suất trung bình 68 tạ/ha, thâm canh 72 tạ/ha. Phẩm chất khá, hạt thon dài, cơm ngon, có mùi thơm nhẹ. Nhiễm rầy nâu trung bình (cấp 5-7), ít nhiễm bệnh đạo ôn (cấp 5); cứng cây chống đổ khá. Thích hợp vụ ĐX và HT tại DHNTB và Tây Nguyên.

10. Giống BM207 (lúa chất lượng): TGST 125 ngày (ĐX) và 114 ngày (HT). Năng suất TB 64 tạ/ha, thâm canh đạt 75 tạ/ha. Chất lượng gạo tốt, cơm ngon, có mùi thơm. Nhiễm rầy nâu trung bình (cấp 5-7); nhiễm bệnh đạo ôn cổ bông TB (cấp 5-7); chống đổ khá. Thích hợp vụ ĐX và HT ở DHNTB.

11. Giống BC15 (dài ngày): TGST 133 ngày (ĐX) và 115 ngày (HT). Cây cao trung bình 87,3 cm; đẻ nhánh khá; có bình quân 138 hạt chắc/bông; P.1000 hạt 24-25 gam. Năng suất trung bình 65 tạ/ha, thâm canh 75 tạ/ha. Phẩm chất trung bình, hạt dài trung bình. Nhiễm rầy nâu trung bình (cấp 5-7), nhiễm bệnh đạo ôn cổ bông trung bình (cấp 7). Cứng cây chống đổ khá. Thích hợp vụ ĐX và HT tại DHNTB.

12. Giống DT38 (dài ngày): TGST 133 ngày (ĐX) và 116 ngày (HT). Năng suất trung bình 69 tạ/ha, thâm canh đạt 75 tạ/ha. Ít nhiễm rầy nâu (cấp 0); ít nhiễm bệnh đạo ôn (cấp 3); chống đổ khá. Thích hợp vụ ĐX và HT tại DHNTB và Tây Nguyên.

13. Giống lúa lai Nhị ưu 725: TGST 115-120 ngày (ĐX); 105-112 ngày (HT). Năng suất trung bình 73 tạ/ha, thâm canh cao đạt 85 tạ/ha. Phẩm chất gạo khá, cơm ngon khá. Nhiễm rầy trung bình, ít nhiễm bệnh đạo ôn; chống đổ tốt, chịu lạnh khá. Thích hợp vụ ĐX và HT tại DHNTB và Tây Nguyên.

14. Giống lúa lai Nghi Hương 2308: TGST 118-125 ngày (ĐX) và 105-110 ngày (HT). Năng suất trung bình 71 tạ/ha, thâm canh 80 tạ/ha. Phẩm chất gạo tốt, cơm ngon. Nhiễm rầy nâu TB, ít nhiễm bệnh đạo ôn; cứng cây chống đổ khá, chịu lạnh khá. Thích hợp gieo sạ vụ ĐX và HT tại Duyên hải Nam Trung bộ.

15. Giống lúa lai B-TE1: TGST 120-130 ngày (ĐX) và 100-110 ngày (HT). Năng suất trung bình 72 tạ/ha, thâm canh cao 80 tạ/ha. Phẩm chất gạo tốt, cơm ngon. Nhiễm rầy trung bình, ít nhiễm bệnh đạo ôn; chống đổ tốt, chịu hạn khá. Thích hợp vụ ĐX và HT tại DHNTB và Tây Nguyên.

16. Giống lúa lai PHB71: TGST 116-120 ngày (ĐX) và 100-113 ngày (HT). Năng suất trung bình 66 tạ/ha, thâm canh 83 tạ/ha; chất lượng gạo khá, cơm ngon. Ít nhiễm rầy nâu (cấp 3), ít nhiễm bệnh đạo ôn; cứng cây chống đổ khá. Thích hợp vụ ĐX và HT tại DHNTB và Tây Nguyên.

17. Giống lúa lai D.ưu 725: TGST 115-119 ngày (ĐX); 105-112 ngày (HT). Năng suất TB 64 tạ/ha, thâm canh 75 tạ/ha. Phẩm chất gạo khá, cơm ngon khá. Nhiễm rầy trung bình, ít nhiễm bệnh đạo ôn; cứng cây chống đổ tốt, chịu lạnh khá. Thích hợp gieo sạ vụ ĐX và HT tại DHNTB.

18. Giống lúa lai H94017: TGST 125-130 ngày (ĐX); 105-110 ngày (HT). Năng suất TB 78 tạ/ha, thâm canh cao đạt 85 tạ/ha. Phẩm chất gạo khá, cơm ngon khá. Nhiễm rầy trung bình, ít nhiễm bệnh đạo ôn; cứng cây chống đổ tốt, chịu hạn khá. Thích hợp gieo sạ vụ ĐX và HT tại DHNTB.

19. Giống lúa lai BIO404: TGST 115-120 ngày (ĐX); 105-100 ngày (HT). Năng suất trung bình 69 tạ/ha, thâm canh cao đạt 80 tạ/ha. Phẩm chất gạo khá, cơm ngon. Nhiễm rầy trung bình, ít nhiễm bệnh đạo ôn; cứng cây chống đổ khá, chịu hạn khá. Thích hợp gieo sạ vụ ĐX và HT tại DHNTB.

20. Quốc Hương ưu số 5: TGST 115-120 ngày (ĐX); 100-105 ngày (HT). Năng suất TB 78 tạ/ha, thâm canh 80 tạ/ha. Phẩm chất gạo tốt, cơm ngon. Nhiễm rầy trung bình, ít nhiễm bệnh đạo ôn; cứng cây chống đổ tốt, chịu lạnh khá. Thích hợp gieo sạ vụ ĐX và HT tại DHNTB.


(Nguồn: Báo Nông Nghiệp - http://nongnghiep.vn/nongnghiepvn/vi-VN/61/158/45/45/45/23359/Default.aspx)

KHÔI PHỤC ĐỒNG LÚA DO TÔM SÚ LẤN

Xã Thạnh Phước, huyện Bình Đại, Bến Tre cách nay 6 năm đã bị một “cơn lốc” nuôi tôm sú tràn về càn quét đi cả một cánh đồng lúa mùa truyền thống. Tưởng chừng đời sống người dân nghèo nơi đây khá lên theo con tôm sú nhưng không ngờ ngược lại còn thảm bại hơn.

Những ngày qua mặc dù giá lúa ở ĐBSCL xuống khá thấp nhưng nhiều nông dân ở xã Thạnh Phước làm lúa mùa chất lượng vẫn bán được giá khá cao. Anh Nguyễn Văn Dũng ở ấp 5, xã Thạnh Phước cho biết: Lúa ở vùng này hiện nay giá đang ở mức 150.000 đồng/giạ. Tôi làm 5 công rưỡi lúa thu hoạch được hơn 100 giạ, nếu so với nuôi tôm sú trước đây thì làm lúa có lời và ăn chắc hơn nhiều.

Anh Phan Văn Bình cũng ở đấy, cho biết thêm: Năm 2001 nông dân vùng này bắt đầu tập tành nuôi tôm sú theo phong trào nhưng liên tiếp gặp thất bại. Sau 1-2 vụ nuôi nhiều hộ phải cầm bằng khoán đỏ cho ngân hàng. Thậm chí, có hộ còn rao bán luôn đất nuôi tôm với giá “bèo” chỉ 5-7 triệu đồng/công. Ngành chức năng cũng nhận thấy phong trào độc canh nuôi tôm ở đây không “ăn” nên năm 2007 đã quyết tâm đưa mô hình trồng lúa mùa xen tôm về triển khai.

Anh Bình là người tiên phong làm thử nghiệm mô hình xen canh lúa + tôm trên diện tích 7.000 m2 mặt đất ao tôm nuôi công nghiệp cho biết: “Tôi là người tiên phong làm theo mô hình lúa + tôm của ngành nông nghiệp triển khai. Lúc đầu cũng dè chừng nhưng sau 4 tháng đã thu về được hơn 100 giạ, thấy vậy nhiều bà con làm theo. Vụ lúa này tôi đã gieo sạ lúa được hơn 2 tháng rồi và hiện nay trông trà lúa rất tốt”.

Ông Lê Văn Dũng, Chủ tịch Hội nông dân xã Thạnh Phước cho biết: Xã Thạnh Phước quyết tâm vực dậy kinh tế ở cánh đồng Bé 360 ha để làm theo mô hình lúa + tôm. Đây là vùng lúa mùa truyền thống đã bị con tôm sú lấn sân cách nay 6 năm.

Ông Nguyễn Văn Rê, Bí thư xã Thạnh Phước khẳng định: Tết này người dân xã Thạnh Phước chắc chắn sẽ phấn khởi hơn bởi hiện nay nhìn trà lúa trồng trong vuông tôm đang phát triển rất tốt, cứ đà này năng suất ước đạt khoảng 3,5-4 tấn/ha. Đáng mừng hơn nữa là sau nhiều năm bỏ lúa nuôi tôm đến nay một số hộ vẫn giữ lại được các giống lúa mùa truyền thống như: Nàng Quốc, Trắng Hòa Bình, Đất Đỏ. Đây là những giống đặc sản, hạt căng, rất ngon cơm. Mục tiêu của xã là quyết tâm khôi phục lại vùng lúa mùa truyền thống với khoảng 600 ha. Xã cũng đã phối hợp với Ngân hàng NN-PTNT huyện Bình Đại hỗ trợ người dân vay vốn.

(Nguồn: THANH PHONG, Báo Nông Nghiệp - http://nongnghiep.vn/nongnghiepvn/vi-VN/61/158/2/2/2/23424/Default.aspx)

16/12/2008

Điểm tin CÂY LÚA


TINKHOAHOC Điểm tin CÂY LÚA của Sở Khoa học Công nghệ Vĩnh Long có những tin chính: Hiện tượng lúa bị đổ ngã và cách khắc phục; Một công cụ mới diệt trừ rầy nâu hữu hiệu; TP 5 - Giống lúa thơm, năng suất cao; Trang web dành cho cây lúa Việt Nam; Viện Lúa ĐBSCL bình chọn được 9 giống lúa triển vọng; Cách rút ngắn thời gian sinh trưởng lúa mùa; Giống lúa chống cỏ; Ứng dụng kỹ thuật điện di protein SDS-PAGE cải thiện và nâng cao phẩm chất các giống lúa; Hạt giống cho những cánh đồng chất lượng cao; Khử trùng hạt giống lúa (xem chi tiết)

Hiện tượng lúa bị đổ ngã và cách khắc phục
Hiện tượng lúa bị đổ ngã có nhiều nguyên nhân như: do thời tiết, gặp mưa to, gió lớn, do thế đất trũng nước ngập sâu, lúa thường vóng cao, thân mềm yếu, dễ bị đổ ngã và sâu bệnh tấn công; do bón^ phân không cân đối, thường gặp trên ruộng nghèo lân, kali và canxi hoặc đất có hàm lượng mùn cao, nếu bón đạm quá nhiều so với lân và nhất là kali lúa bị đổ; do giống lúa yếu cây, chịu phân kém hoặc sạ quá dày; do bị nhiễm bệnh những ruộng thừa đạm, sạ dày hoặc ngập nước liên tục, khi thời tiết ẩm ướt...

Một công cụ mới diệt trừ rầy nâu hữu hiệu
Rầy nâu (RN) là mối đe dọa thường trực đối với ngành sản xuất lúa gạo ở ĐBSCL, một vùng trồng lúa quan trọng của cả nước. Một trong những đặc điểm sinh học cơ bản của RN là chúng sống dưới gốc lúa và chích hút nhựa ở bẹ lá lúa, nên với những loại bình bơm phổ biến hiện nay rất khó có thể phun xịt đến tận gốc để diệt rầy.

TP 5 - Giống lúa thơm, năng suất cao
Giống lúa mới TP5 lai từ giống lúa Jasmine và giống lúa cao sản nhập nội (Úc), do Bộ môn di truyền giống nông nghiệp, khoa Nông nghiệp và công nghệ sinh học ứng dụng, trường ĐH Cần Thơ lai tạo thành công.

Trang web dành cho cây lúa Việt Nam
Sáng 5-8, tại Hà Nội, Viện Khoa học Nông nghiệp Việt Nam đã chính thức khai trương trang Web Ngân hàng Kiến thức trồng lúa Việt Nam, địa chỉ truy cập: www.caylua.vn.

Bình chọn được 9 giống lúa triển vọng
Viện lúa đồng bằng sông Cửu Long đã tổ chức đánh giá 112 giống lúa trồng khảo nghiệm của Viện và đề xuất 9 giống lúa triển vọng, kháng sâu bệnh và có phẩm chất tốt, gồm các giống: OM6073, OM5199, OM5451, OM6072, OM5464, OM5472, OM5453, OM4088, OM2474. Các giống lúa này đã được hơn 150 cán bộ, chuyên gia, nhà khoa học trong lĩnh vực nông nghiệp nhất trí bình chọn là giống triển vọng để đưa vào sản xuất trong vụ tới.

Cách rút ngắn thời gian sinh trưởng lúa mùa
Năm nay do điều kiện đặc biệt của thời tiết khí hậu nên vụ mùa sớm ở các tỉnh phía Bắc nước ta sẽ phải tiến hành gieo cấy khẩn trương và muộn hơn so với cùng kỳ năm ngoái 5 - 10 ngày^, điều đó ảnh hưởng không nhỏ tới tiến độ gieo trồng các cây vụ đông. Xin giới thiệu một số biện pháp kỹ thuật nhằm rút ngắn thời gian sinh trưởng của lúa mùa để khắc phục hiện tượng bất lợi này.

Giống lúa chống cỏ
Giống lúa này vừa được PGS- TS Dương Văn Chín, Viện Lúa đồng bằng sông Cửu Long (Cần Thơ) và nhóm cộng sự nghiên cứu thành công.

Ứng dụng kỹ thuật điện di protein SDS-PAGE cải thiện và nâng cao phẩm chất các giống lúa
Điện di protein SDS-PAGE (Sodium Dodecyl Sulfate PolyAcrylamide) là kỹ thuật phổ biến trong lĩnh vực công nghệ sinh học, có thể ứng dụng trên thực vật, động vật, vi sinh vật. Trong chọn tạo giống lúa, kỹ thuật này giúp phát hiện nhanh những tính chất nổi bật như mùi thơm, protein, amylose... để các nhà khoa học chọn lọc được những dòng, giống có phẩm chất tốt. Một số giống lúa đặc sản được cải thiện phẩm chất thành công và nhiều giống lúa triển vọng ra đời bằng kỹ thuật này.

Hạt giống cho những cánh đồng chất lượng cao
Thời gian qua, Viện Lúa ĐBSCL không ngừng nghiên cứu, tạo ra các giống lúa có chất lượng và năng suất cao, chống chịu được các điều kiện bất lợi của ngoại cảnh và các sâu bệnh hại chính. Nhiều công trình nghiên cứu của Viện được Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn đánh giá cao về ý nghĩa khoa học cũng như khả năng ứng dụng cao vào thực tiễn.Từ những nghiên cứu cơ bản...

Khử trùng hạt giống lúa
Khử trùng hạt giống đề phòng bệnh lúa von, bệnh khô vằn làm thối mộng mạ.... Lây truyền từ vỏ hạt giống sang cây mạ.

10/12/2008

Quảng Tây xây dựng cơ sở lớn bio-ethanol

TINKHOAHOC. Theo Gasgoo.com, Thượng Hải, ngày 8 tháng 12 năm 2008 được đăng lại bởi Cropsforbiofuel ngày 11 tháng 12 năm 2008: Trung Quốc đang xây dựng các cơ sở sản xuất nhiên liệu sinh học bio-ethanol lớn nhất tại tỉnh Quảng Tây để pha trộn hoặc thay thế xăng, dầu diesel cho xe hơi. Báo Thượng Hải dựa trên báo "Jiefang hàng ngày cuối tuần" và báo "Automakers toàn cầu" đã cho thấy triển vọng đầy hứa hẹn của các thế hệ mới bio-ethanol phát triển mạnh tại Trung Quốc.

Trong tháng Tư, Trung Quốc đã thành công trong việc thay thế và pha trộn bio-ethanol với xăng và dầu diesel ở tỉnh Quảng Tây. Các trạm xăng ở 14 thành phố của Quảng Tây đã bắt đầu bán bio-ethanol. Một số địa phương sản xuất ethanol nhiên liệu cũng được pha trộn tỷ lệ 10% với động cơ xăng bình thường. Cơ sở sản xuất cồn sinh học tại thành phố Beihai của tỉnh Quảng Tây hiện đã có thể sản xuất 200.000 tấn ethanol mỗi năm từ 1,5 triệu tấn sắn lát.

Quảng Tây là tỉnh đầu tiên của Trung Quốc đã sử dụng các sản phẩm sắn để thay cho lúa mì để sản xuất ethanol. Sản lượng sắn của tỉnh này chiếm hơn 60% trong tổng số sản lượng 7,8 triệu tấn sắn mỗi năm của Trung Quốc. Năm ngoái Trung Quốc cấm sử dụng hạt cho sản xuất ethanol để đảm bảo an ninh lương thực. Hiện tại, khoảng mười tỉnh của Trung Quốc đang sử dụng ethanol làm nhiên liệu với lượng bán hàng dự kiến sẽ đạt 30 triệu tấn vào năm 2010 chiếm phân nửa trong tổng nguồn cung cấp xăng.

Trong số hơn 40 dự án thí điểm sản xuất cồn sinh học bio ethanol trên toàn thế giới thì đã có hai dự án ở Trung Quốc. Nhiên liệu sinh học bio ethanol sẽ giúp Trung Quốc, nước lớn thứ hai trên thế giới về thị trường ô tô, có thể khắc phục được sự thiếu hụt xăng dầu và sẽ cắt giảm được khoảng 30% lượng khí carbon monoxide và 10% lượng khí thải carbon dioxide.

(Hoàng Kim lược dịch)

08/12/2008

GS.TS. Bùi Chí Bửu được trao tặng giải thưởng Senadhira.



TINKHOAHOC. GSTS Bùi Chí Bửu, Viện trưởng Viện Khoa học Nông nghiệp miền Nam, nguyên Viện trưởng Viện Lúa đồng bằng sông Cửu Long vừa được nhận giải thưởng Senadhira tại Hội nghị Nước và Lương thực được tổ chức tại Viện Nghiên cứu Lúa Quốc tế, ngày 03 tháng 12 năm 2008. Đây là giải thưởng ghi nhận công lao đóng góp nổi bật của ông vào việc nghiên cứu chọn tạo và phát triển nhiều giống lúa phổ biến cho sản xuất nông nghiệp Việt Nam. (Xem chi tiết ở IRRI Latest Press Release )

IRRI, 3 December 2008

Vietnamese agricultural leader awarded prestigious rice research honor

Los Baños, Philippines - A veteran Vietnamese plant breeder has won the Senadhira Rice Research Award for 2008 for his outstanding contributions to the development of many popular rice varieties in Vietnam.

Bui Chi Buu, director general of the Institute of Agricultural Science for Southern Vietnam, based in Ho Chi Minh City, has enjoyed a long and distinguished career in rice breeding during which he has emphasized grain-quality improvement, salt tolerance, and resistance to pests and diseases such as blast fungus, bacterial blight, and brown planthopper.

Dr. Buu, also a former director of the Cuu Long [Mekong] Delta Rice Research Institute, received the award today at a meeting on the Challenge Program for Water and Food, held at International Rice Research Institute (IRRI) headquarters in Los Baños, Philippines.

His efforts have led to the certification of many popular rice varieties now being grown by farmers throughout the Mekong Delta, the most productive rice region in Vietnam and the area most responsible for the country's status as the world's second-largest rice exporter.

David Mackill, IRRI senior plant breeder and chair of the award selection committee, noted that Dr. Buu's career has spanned an extraordinary period for Vietnam.

"Dr. Buu has seen the country grow from one of the world's largest rice importers in the 1970s to one of the largest exporters now," said Dr. Mackill. "There is no doubt that his work has played a large part in Vietnam's rice success."

Dr. Buu also has an impressive body of work in the conservation of germplasm (seeds and the genetic material they contain), with an emphasis on wild rice species. He has fostered many Vietnamese rice research scholars and has an extraordinary publication record that includes papers and books on such topics as the application of biotechnology, quantitative genetics, crop breeding, bioinformatics, and the aromatic rice of Vietnam. Internationally, Dr. Buu has been a regional secretary of the Society for the Advancement of Breeding Research in Asia and Oceania for 10 years, a contributor to the Rockefeller Foundation's Rice Biotechnology Program, and a collaborator in Ohio State University's Gene Flow Project.

The award is named after Dharmawansa Senadhira, one of IRRI's most successful rice breeders, who died tragically in a traffic accident in Bangladesh in 1998.

Những giống lúa chất lượng cho ĐBSCL

TINKHOAHOC. Theo PGS.TS. Dương Văn Chín, Phó Viện Trưởng Viện Lúa đồng bằng sông Cửu Long, những giống lúa khuyến cáo cho vụ Đông Xuân là: VNĐ 95-20, IR 64, OMCS 2000, OM 2517, Jasmine 85, OM 3536, OM 5930, MTL 384, OM 4498, AS 996, OM 2395, TNĐB 100, Nếp, VĐ 20, OM 2514, OM 4900, MTL 392, OM 2717, OM 4495, BTE-1, OM 4088, OM 6073, OM 6162. Một số giống khác cũng có tên trong danh sách khuyến cáo nhưng với số lần lặp lại giữa các tiểu vùng sinh thái ít hơn là OM 4668, OM 6035, OM 5625, HĐ1, OM 5239, OM 3242, OM 2718, MTL 530, MTL 499, OM 5936, OM 6035, MTL 547, OM 6561, OM 5199, ST5. Năm 2008, có 6 giống lúa chất lượng cao được các doanh nghiệp XK gạo chấp nhận là: OMCS 2000, OM 3536, OM 2527, OM 2717, VNĐ 95-20, IR 64. Qua thống kê từ 56 thí nghiệm và 27 cuộc đánh giá giống trong hai vụ ĐX 2006-2007 và 2007-2008 tại 10 tỉnh thành vùng đông và tây Nam bộ cho thấy ba giống đạt được thành tích cao nhất là OM 4900, OM 6073 và OM 6162. Những giống có khả năng chống chịu rầy nâu tốt là OM 4900, OM 6073, OM 6162, OM 5930, OM 5240, OM 5636, OM 5629, HG2, OM 6600, OM 6055, OM 4498, AG1, OM 6072, OMCS 2009, OM 6840.

Công nghệ cao nhân giống lúa

TINKHOAHOC. Trung tâm Hạt nhân TP Hồ Chí Minh (Viện Năng lượng nguyên tử Việt Nam) vừa nhân thành công giống lúa thơm đột biến Basmati bằng phương pháp chiếu xạ. Đây là kết quả nghiên cứu của đề tài “Nghiên cứu phát triển các dòng thuần lúa thơm đột biến” do PGS-TS Lê Xuân Thám làm chủ nhiệm.

Giống lúa thơm đột biến Basmati là loại giống rất thích hợp với các loại đất bị nhiễm phèn, mặn của vùng đồng bằng sông Cửu Long, đồng thời cho năng suất cao gấp 2 đến 2,5 lần so với giống lúa gốc. Thành công này đã mở ra triển vọng cho việc nhân rộng trên vùng đất nhiễm phèn, nhiễm mặn ở đồng bằng sông Cửu Long. Theo các nhà nghiên cứu, giống lúa đột biến Basmati có ba ưu điểm chính: Rút ngắn thời gian canh tác, cho gạo có mùi thơm đặc trưng, chất lượng tốt (hàm lượng chất tạo tinh bột chiếm 19-21%. Giống lúa này lại dễ canh tác, thời gian sinh trưởng ngắn chỉ vào khoảng 90 ngày nên có thể thâm canh ba vụ hoặc hai vụ lúa, một vụ màu...

Năm 2002, giống lúa thơm đột biến Basmati bắt đầu được Trung tâm Hạt nhân TP Hồ Chí Minh triển khai từ giống lúa gốc Basmati của Pa-ki-xtan, một loại lúa nổi tiếng trên thị trường quốc tế. Theo PGS.TS. Lê Xuân Thám, loại giống Basmati mà Trung tâm Hạt nhân TP Hồ Chí Minh nhận được chỉ là giống Basmati địa phương của Pa-ki-xtan và Ấn Độ có năng suất 2-3 tấn/ha, thường chỉ gieo một vụ/ năm, cây cao khoảng 1,5-1,6m và thời gian sinh trưởng là từ 140 - 150 ngày/vụ.

Sau khi kết hợp xử lý phóng xạ, Trung tâm kết hợp với Trung tâm Khuyến nông - Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (tỉnh Sóc Trăng) chọn lọc qua các thế hệ và hiện nay đã đạt được dòng thuần chủng - đến thế hệ M8 (8 vụ). Qua trồng thử nghiệm, các nhà khoa học nhận thấy dòng lúa thơm này không những phát triển tốt trên đất nhiễm phèn, nhiễm mặn mà còn cho năng suất cao, gấp 2 đến 2,5 lần so với giống lúa gốc. Thời gian sinh trưởng của giống lúa ngắn chỉ còn 90 ngày, do đó có thể thâm canh ba vụ trên cùng đơn vị diện tích. PGS. TS Lê Xuân Thám cho biết thêm: “Đặc điểm của giống lúa đột biến Basmati này rất thích hợp với các loại đất bị nhiễm phèn, nhiễm mặn của vùng đồng bằng sông Cửu Long. Ngoài ra, đặc tính chống các loại sâu bệnh tương đối tốt và nổi trội hơn so với nhiều giống lúa thơm nhập khẩu khác”. (Tin của Viện Lúa theo Nhân dân, Số 44 (103), 2/11/2008).

Giải mã trình tự chất lượng cao nhằm xác định những phân tử kết gắn

TINKHOAHOC. Mã hóa phân tử DNA tạo điều kiện thuận lợi cho việc xây dựng và thanh lọc những thư viện phân tử hóa học lớn. Ở đây, Luca Mannocci và ctv. thuộc Viện Nghiên cứu dược phẩm Wissenschaften, Thụy Sĩ đã mô tả một chiến lược nghiên cứu từng bước phối hợp mật mã các đoạn phân tử DNA với những phân tử hữu cơ mới sinh thông qua hàng loạt các phản ứng riêng cũng như việc thực hiện bước đầu phương pháp đọc trình tự chất lượng cao trong sự kiện xác định và định lượng các thành viên có trong thư viện. Phương pháp này đã được minh chứng trong cấu trúc của thư viện hóa chất được mã hóa bởi DNA, bao gồm 4000 hợp chất và trong sự kiện khám phá những phân tử binders của streptavidin, matrix metalloproteinase 3, và polyclonal human IgG. Xem tạp chí PNAS

(Nguồn: Viện Lúa ĐBSCL)

Hội chợ Nông nghiệp Quốc tế Việt Nam từ ngày 03-09/12/2008

Hội chợ Nông nghiệp Quốc tế Việt Nam 2008 sẽ diễn ra từ ngày 4-10.12 tại Trung tâm Hội chợ quốc tế Cần Thơ, TP.Cần Thơ, với chủ đề "Nâng cao năng lực cạnh tranh thương hiệu sản phẩm nông nghiệp VN hội nhập kinh tế quốc tế". Hội chợ sẽ là cơ hội để các doanh nghiệp, đơn vị thuộc nhiều nhóm ngành: Máy móc, thiết bị, dây chuyền sản xuất nông nghiệp, các sản phẩm phân bón, thuốc bảo vệ thực vật... quảng bá sản phẩm, thúc đẩy hợp tác đầu tư, xúc tiến thương mại...

25/11/2008

RNAi trong cuộc chiến chống lại virus gây bệnh lúa lùn

TINKHOAHOC. Lúa lùn (rice dwarf) là một trong những virus gây thiệt hại về kinh tế lớn nhất trong ngành trồng lúa ở Đông Nam Á, Nhật và Trung Quốc. Cây bị nhiễm bệnh virus lúa lùn (RDV) có triệu chứng lùn và không tạo ra hạt lúa được. Virus còn làm trì hoãn sự trổ bông và lúa trổ không hoàn toàn; làm thiệt hại năng suất 4000 kg/ha. RDV được truyền đi vào cây lúa do rầy xanh (Nephotettix). Một nhóm các nhà khoa học của Japanese National Agricultural Research Center đã thí nghiệm phân tử RNA interference (RNAi) để tạo ra những cây kháng với RDV. Tính kháng về di truyền là một trong những phương pháp tiếp cận hiệu quả nhất để bảo vệ cây trồng khỏi sự lây nhiễm của virus. Shimizu và ctv. đã ghi nhận rằng: không có một báo cáo nào về các gen xảy ra trong tự nhiên đảm nhận chức năng điều khiển sự kháng với RDV. Họ sử dụng hiện tượng im lặng thông qua phân tử RNAi. Họ xác định mục tiêu đặc biệt của những gen virus mã hóa Pns12 và Pns4, những protein không có cấu trúc của RDV đóng vai trò vô cùng cần thiết cho sự tự tái bản của virus. Cây lúa tích lũy những phân tử “small interfering RNAs” (SiRNA) đặc trưng cho những cấu trúc của Pns12, sau khi tự thụ tinh, đã được tìm thấy kháng rất mạnh với sự lây nhiễm của virus. Nghiên cứu này chứng minh rằng việc gây ra im lặng đối với một protein ảnh hưởng đến chu kỳ tự tái bản của virus sẽ tạo nên một chiến lược hiệu quả trong cải tiến tính kháng virus gây bệnh cây trồng. Xem tạp chí Plant Biotechnology tại http://dx.doi.org/10.1111/j.1467-7652.2008.00366.x

(IAS)


Ảnh hưởng của cây bonsai

TINKHOAHOC. Thực vật biểu hiện trong điều kiện bất lợi, thí dụ như lạnh, khô hạn, mặn và bị thú ăn cỏ tấn công, thường nhỏ hơn trong những điều kiện không có stress. Cơ sở để ức chế tăng trưởng của stress vẫn chưa được biết rõ ràng, ngay cả nó làm suy giảm sự sinh trưởng của cây và năng suất, ước khoảng 22% năng suất mất đi trên toàn cầu. Vết thương kích thích cây lùn đã được áp dụng trên cây bonsai mà chiều cao, chu vi thân, và kích thước nhỏ suy giảm đi ít nhất 5% so với cây không xử lý. Các nhà khoa học thuộc ĐH East Anglia, Anh Quốc đã tìm thấy rằng khi lá cây của cây mô hình Arabidopsis được gây thương tích nhiều lần, sự phân bào trong mô phân đỉnh ở đỉnh chồi bị giảm đi và sự tăng trưởng của bị dừng lại trong vài ngày. Họ cũng tìm thấy sự gia tăng gấp 7 lần hàm lượng hormone thực vật jasmonate (JA) trong những cây bị thương. Tăng trưởng của cây Arabidopsis đột biến không thể tổng hợp JA hoặc không thể phản ứng với hormone này, sẽ không bị ảnh hưởng bởi stress do bị thương. Họ ghi nhận rằng chức năng đầu tiên của JA do bị thương kích thích nên, làm cây lùn xuống thông qua hoạt động ức chế hiện tượng phân bào. Khám phá này mở ra khả năng cải tiến sự tăng trưởng cây trồng thông qua những thao tác trong lộ trình truyền tín hiệu jasmonate. Xem tạp chí PLoS ONE tại http://dx.doi.org/10.1371/journal.pone.0003699 

(IAS)


17/11/2008

Gen mới trong cơ chế làm im lặng, trong bộ gen cây bắp

TINKHOAHOC. Các nhà khoa học thuộc ĐH Delaware hợp tác với các nhà khoa học thuộc ĐH South Dakota State, và ĐH Arizona đã xác định một gen mới điều khiển cơ chế làm im lặng gen trong cây bắp, giúp cho việc bảo vệ cây trồng tránh hiện tượng đột biến do virus gây ra và hiện tượng gen nhảy. Khám phá này đã được biết nhờ so sánh tác động của sự bất hoạt một gen xảy trên cả hai cây bắp và cây mô hình Arabidopsis. Các nhà khoa học thuộc ĐH Delaware đã nghiên cứu trước đây những dòng đột biến cây Arabidopsis có gen “non-functional RNA-dependent RNA polymerase 2” (RDR2). RDR2 mã hóa một enzyme cho phép cây tạo ra một nhóm phân tử “small RNAs”, có chức năng bảo vệ tính toàn vẹn của gen trên nhiễm sắc thể. Các nhà khoa học thuộc ĐH Arizona theo một cách nghiên cứu khác, đã xác định được một gen trong cây bắp tương đương với RDR2 của Arabidopsis. Bởi vì gen RDR2 và MOP1 đều phải tại ra sản phẩm "protective" của phân tử “small RNAs”, các nhà nghiên cứu đã quyết định cùng hợp tác với nhau để xem xét nếu “small RNAs” này trong cây bắp có tính chất giống như Arabidopsi hay không? Họ đã tìm thấy có nhiều phân tử RNAs hơn, được biết với thuật ngữ chuyên môn là "small interfering RNAs (siRNAs)" trong cây bắp so với cây Arabidopsis. Nhóm phân tử RNAs này chủ yếu có nhiệm vụ ức chế các chuỗi trình tự có tính chất lập lại (repetitive sequences), bao gồm các gen nhảy. Khi có nhiều phân tử “small RNAs” có tính chất bảo vệ trong bộ gen cây bắp nhiều hơn trong bộ gen cây Arabidopsis, các nhà khoa học nghi ngờ rằng có những gen đóng vai trò bổ sung khác hơn MOP1 chúng tạo ra phân tử siRNAs. Xem http://www.udel.edu/udaily/2009/oct/corn103008.html

Bùi Chí Bửu

07/11/2008

Phân tích genome khoai mì trên cơ sở transcriptome của nó

TINKHOAHOC. Khoai mì hay sắn (Manihot esculenta Crantz) là giống cây trồng nhiệt đới được trồng phổ biến để sản xuất tinh bột từ rễ củ. Ở Thái Lan, khoai mì được xếp hạng như là một cây có tầm quan trọng về kinh tế bên cạnh cây lúa, cao su và mía đường. Kiến thức không đầy đủ về hệ thống điều tiết có tính chất di truyền kiểm soát sự sinh tổng hợp tinh bột khoai mì là trở ngại chính cho công nghệ sau thu hoạch khoai mì. Chương trình hợp tác nghiên cứu BIOTEC giữa Thái Lan và Nhật Bản (Nara Institute of Science and Technology) nhằm xây dựng một bộ sưu tập khổng lồ về EST của khoai mì. Thông tin về EST sẽ giúp cho chúng ta có được những quan sát ban đầu về trạng thái và và dòng chuyển của transcriptome khoai mì trong các trường hợp khác nhau ảnh hưởng đến sự sản sinh tinh bột. Sau khi phân tích cẩn thận các dữ liệu, cca1c chuỗi trình tự EST có tính chất non-redundant sẽ được chọn lọc và được sử dụng trong việc tạo ra chip cho kỹ thuật microarray phục vụ phân tích có tính chất toàn cầu transcriptome của khoai mì. Người ta hi vọng rằng sẽ có nhiều gen mới và quan trọng liên quan đến tính trạng cần thiết như phẩm chất tinh bột và số lượng tinh bột sẽ được phân lập. Xem chi tiết http://www.safetybio.agri.kps.ku.ac.th/index.php?
option=com_content&task=view&id=3851&Itemid=47


Bùi Chí Bửu

Cây lúa biến đổi gen tạo vaccine chống lại giun sán

TINKHOAHOC. Các nhà khoa học thuộc ĐH Tokyo, ĐH Gifu và NIAS (Japanese National Institute of Agrobiological Sciences) đã phát triển thành công giống lúa biến đổi gen tích tụ vaccine chống lại giun sán ở các mức độ rất có ý nghĩa. Cây lúa chuyển gen này biểu hiện As16 –một antigen bảo vệ chống lại ký sinh của giun Ascaris suum- phối hợp với độc tố của dịch tả thuộc “toxin B subunit” (CTB). Con giun Ascaris là tuyến trùng ký sinh trong ruột, dạ dày người và động vật, bệnh ký sinh này lan rộng toàn thế giới. Độc tố dịch tả được sử dụng như một chất phụ trợ có tính nhớt để kích hoạt phản ứng miễn dịch xảy ra. Các nhà khoa học này ghi nhận mức độ thể hiện protein dung hợp ở dạng khảm trong nội nhũ hạt thóc, với giá trị trung bình là 50 μg/g hạt. Cây lúa GM như vậy được thử trên chuột với trứng của tuyến trùng; chuột ăn thóc GM có trứng tuyến trùng xuất hiện ở phổi thấp hơn chuột đối chứng. Họ ghi nhận rằng đây là nghiên cứu đầu tiên chứng minh rằng vaccine ăn được thể hiện trong cây lúa giúp loài người chống lại một dạng ký sinh trong một loài động vật dùng làm mô hình là chuột. Xem chi tiết http://dx.doi.org/10.1007/s11248-008-9205-4

Bùi Chí Bửu

Bệnh bạc lá của cây lúa có thể được chẩn đoán bằng Bioterror Watchlist

TINKHOAHOC. Hướng nghiên cứu của các nhà khoa học thuộc APHIS, Hoa Kỳ (Department of Agriculture's Animal and Plant Health Inspection Service) đối với vi khuẩn Xanthomonas oryzae pv. oryzae là xây dựng một danh sách các 'select agents' (những nhân tố chọn lọc) để có thể sử dụng làm bioterrorism (vật liệu khủng bố sinh học). Vi khuẩn gây bệnh bạc lá lúa, là một trong những đối tượng gây bệnh nghiêm trọng của ngành trồng lúa. Bệnh bạc lá lúa được ghi nhận làm hao hụt năng suất ở Châu Á là 60% mỗi năm. Trên tạp chí Nature, họ báo cáo rằng nhiều nhà nghiên cứu vi khuẩn này tranh cãi việc lập danh sách. Họ còn một tháng nữa để xin Chính phủ về các văn kiện pháp luật có liên quan cho đến 14 tháng Tư 2009. Xem chi tiết http://dx.doi.org/10.1038/4551163b

Bùi Chí Bửu

02/11/2008

Công nghệ Nano


TINKHOAHOC. " Nếu Thế kỷ 20 được coi là cuộc cách mạng về công nghệ thông tin thì Thế kỷ 21 sẽ thuộc về công nghệ Nano. Nanotechnology là một ngành công nghệ non trẻ , tuy nhiên nó có khả năng sẽ làm thay đổi một cách toàn diện bộ mặt cuộc sống của chúng ta . Bằng công nghệ Nano , người ta có thể "nhét" tất cả thông tin của 27 cuốn Từ điển Bách khoa toàn thư của Anh nằm gọn trong một thiết bị chỉ bằng sợi tóc. Người ta cũng có thể chế tạo ra những con robot mà mắt thường không nhìn thấy được . Và còn vô số điều kỳ lạ khác mà con người có thể khai thác nhờ vào công nghệ Nano . Vì thế nhiều quốc gia trên thế giới đã quan tâm và đặt ra mục tiêu nghiên cứu phát triển và ứng dụng công nghệ Nano như là một đòn bẩy thúc đẩy sự phát triển của nền kinh tế , cùng các ngành khoa học công nghệ khác, vốn đã phát triển như : công nghệ thông tin , công nghệ thiết kế vi mạch , công nghệ sinh học ...". Xem chi tiết tại http://niemtin.free.fr/vnnano.htm

21/10/2008

Các nhà khoa học xác định gen chống chịu nóng

TINKHOAHOC. Các nhà khoa học thuộc ĐH Michigan State (MSU), Hoa Kỳ vừa xác định được một gen có vai trò quan trọng giúp cây phản ứng với stress do nóng. Công trình được đăng trên Proceedings of the National Academy of Sciences, gen bZIP28 do Cristoph Benning và cộng sự viên biểu hiện triển vọng trong việc cải tiến giống cây trồng chống chịu nóng. Các nhà khoa học của MSU đã tìm thấy gen bZIP28 điều tiết sự thích nghi của cây đối với stress do nóng gây ra trên cây mô hình Arabidopsis. Gen này mã hóa protein có tính chất “membrane-tethered” giúp cây có thể bật mở chức năng của gen khác kiểm soát phản ứng nóng. Những cây có bZIP28 không hoạt động sẽ chết ngay sau khi nhiệt độ nóng đạt mức cực trọng nào đó. Sự chống chịu nóng của cây là một tiến trình xảy ra phức tạp hơn rất nhiều so với những hiểu biết trước đây. Các nhà khoa học đã tìm thấy bZIP28 phản ứng với những tín hiệu từ mạng võng nội chất (endoplasmic reticulum: ER), đây là phát hiện lần đầu tiên tại ER thể hiện phản ứng với nhiệt độ nóng. Nghiên cứu trước đó cho thấy nhân là trung tâm kiểm soát của tế bào, và dịch bào (cytosol), chất lỏng bên trong tế bào, đóng vai trò quan trọng giải thích: làm thế nào cây chống chịu nóng. ER là một mạng tập họp các tubules, vesicles và những câu trúc giống như một túi đựng đồ, chủ yếu đảm đương nhiệm vụ đóng gói và dự trữ protein trong tế bào. Xem chi tiết http://news.msu.edu/story/5689/&perPage=25

Bui Chi Buu

Việt Nam phát triển chương trình công nghệ sinh học nông nghiệp

TINKHOAHOC. Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng, nước CHXHCN Việt Nam, vừa chấp thuận cho phép một chương trình quốc gia phát triển và ứng dụng công nghệ sinh học trong nông nghiệp, chăn nuôi cho đến 2020. Trong kế hoạch này, Việt Nam sẽ cho phép sản xuất một vài giống cấy trồng biến đổi gen (GM crops) đại trà và nhân bản vật nuôi. Ngân sách hàng năm phục vụ mục tiêu này sẽ đạt 100 tỷ đồng (6,25 triệu đô la Mỹ). Xem http://english.vietnamnet.vn/tech/2008/10/806498/

Bui Chi Buu

Lúa javanica kháng sâu đục thân, giống Rojolele ở Indonesia

TINKHOAHOC. Lúa gạo được tiêu thụ hơn 90% tại quốc đảo Indonesia. Các nhà chọn giống lúa Indonesia đang nổ lực tìm kiếm cải tiến giống lúa javanica (japonica nhiệt đới). Giống lúa mới trên cở sở dạng hình japonica nhiệt đới đang được khai thác nhằm gia tăng tiềm năng về năng suất cây lúa. Giống Rojolele, thuộc dạng hình javanica, cho năng suất cao, nhưng cần phải cải tiến tính chống chịu sâu bệnh và phẩm chất hạt của nó. Các nhà nghiên cứu thuộc Trung Tâm nghiên cứu Công Nghệ Sinh học, Viện Khoa Học Indonesia đã thực hiện việc chuyển gen vào Rojolele bằng phương pháp “binary vector” có gen cry1B với promoter cảm ứng. Gen tổng hợp cry1B của vi khuẩn Bacillus thuringinensis được sử dụng trong chuyển nạp nhằm mục tiêu kháng sâu đu6c thân màu vàng (Scirpophaga incertulas). Sự có mặt của gen cry1B trong thế hệ liên tục sau đó được xác định bằng polymerase chain reaction (PCR) và Southern blot analysis. Tính kháng của giống chuyển gen được so sánh với giống bình thường. Xem http://www.biotek.lipi.go.id/http://www.biotek.lipi.go.id hoặc gửi e-mail cho estiati@telkom.net, hoặc Dr Dewi Suryani of IndoBIC tại địa chỉ e-mail dewisuryani@biotrop.org.

Bui Chi Buu

11/10/2008

Củ sắn nặng 20 cân



TINKHOAHOC. Ngày 7/10, khi đào bụi sắn trồng bên bờ rào, vợ chồng ông Võ Ngọc Bính (82 tuổi) ở thị trấn Phù Mỹ (Bình Định) phát hiện củ sắn rất to, dài và nặng tới 20kg. Củ sắn quá nặng khiến hai ông bà già ở tuổi 80 phải vất vả lắm mới khiêng được vào nhà. Ảnh: Văn Tố.

Theo ông Bính, vợ chồng ông trồng cạnh bờ rào hai bụi sắn gòn (loại sắn lâu nay vẫn được trồng ở địa phương) từ hai năm nay trên loại đất cát pha thịt. Tuy nhiên, chỉ có một bụi sắn là cho củ khổng lồ, bụi còn lại vẫn cho sắn bình thường.

Hai ngày qua, hàng chục người dân hiếu kỳ ở các thôn khác đã đến nhà ông Bính để tận mắt chiêm ngưỡng củ sắn khổng lồ này.

Trung tâm Khuyến Nông Khuyến Ngư Quốc Gia
http://www.khuyennongvn.gov.vn/k-ban-co-biet/cu-san-nang-20-can

Công cụ mới trong chức năng genome học của cây lúa

TINKHOAHOC. Các nhà khoa học thuộc Đại Học California Davis, đứng đầu là nhà bệnh cây học Pamela Ronald, đã phát triển một công cụ mới trong nghiên cứu chức năng gen của bộ gen cây lúa. Kỹ thuật microarray cải biên, rẻ tiền, có khả năng phổ biến rộng, bao phủ trên 45.000 gen của cây lúa. Họ hi vọng rằng công cụ của họ sẽ là phương tiện chủ đạo trong nghiên cứu chức năng gen của bộ gen cây lúa. Xem chi tiết bài viết trên tạp chí PLoS ONE. Họ đã phát triển những phương pháp có hiệu quả kỹ thuật cao để xác định phổ thể hiện của gen bằng "DNA Microarrays hoặc 'genomic chips', với hàng nghìn đoạn phân tử DNA được gắn trên tấm thủy tinh mỏng (slide). Công nghệ này cho phép các nhà khoa học có bức tranh hoàn mỹ hơn về sự tương tác của hàng nghìn gen trong cùng một lúc. Ngày nay, hầu hết các nghiên cứu về microarray trên cây lúa chưa tập trung vào việc phát hiện chức năng của gen per se, nhưng đã cung cấp được một phổ (profile) của một cơ quan nào đó, khả năng phản ứng với môi trường, hoặc nền tảng di truyền. Sử dụng NSF45K array, Ronald và cộng sự của ông có thể phân lập các gen đang thực hiện những tiến trình quan trọng về hóa sinh có liên quan đến ánh sáng, thí dụ như quang tổng hợp và hô hấp. Nhóm nghiên cứu cũng phát triển thành công chương trình trên mạng cho phép người sử dụng so sánh các phổ của sự thể hiện gen thông qua những slide trong microarray. Xem trên mạng http://dx.plos.org/10.1371/journal.pone.0003337

Bùi Chí Bửu

Cây lúa chuyển gen có hàm lượng phytic acid thấp

TINKHOAHOC. Phytic acid, một dạng dự trữ của phosphorus trong hạt mễ cốc, có tác động xấu đến dinh dưỡng động vật và môi trường. Động vật thuộc nhóm “monogastric” không thể sử dụng phosphorus này trong phytic acid một cách hiệu quả, bởi vì nó thiếu enzyme “phytase” rất cần thiết cho tiêu hóa. Phosphate vô cơ phải được thêm vào thức ăn gia súc để ngăn ngừa hiện tiệng thiếu lân. Phytic acid được biết như một phức với những ion kim loại như sắt, kẽm, magnesium và potassium, ngăn ngừa sự hấp thu của những kim loại này trong vật nuôi. Thêm vào đó, phytic acid không thể tiêu hóa như vậy được bài tiết trong phân gia súc tạo ra nguồn ô nhiễm phosphorus trong nông nghiệp. Bằng cách làm im lặng gen mã hóa enzyme 1d-myo-inositol 3-phosphate synthase (RINO1), một nhóm các nhà nghiên cứu của Đại Học Tokyo và Kobe, Nhật Bản đã tạo ra được cây lúa chuyển gen tích tụ hàm lượng phytic acid rất thấp một cách đáng kể. Enzyme này trực tiếp tác động đến sự tổng hợp phytic acid trong hạt. Báo cáo của học được công bố trên tạp chí Plant Biotechnology, hàm lượng phytic acid giảm đi 68% trong cây lúa chuyển gen so với cây không chuyển gen. Không có ảnh hưởng bất lợi đối với trọng lượng hạt, sự nẩy mầm. Thêm vào đó, các mức độ phosphate chấp nhận được trong cây chuyển gen hơn hẳn cây lúa phytic acid thấp do đột biến. Đọc http://www3.interscience.wiley.com/cgi-bin/fulltext/121429897/HTMLSTART hoặc http://www3.interscience.wiley.com/journal/121429897/abstract?CRETRY=1&SRETRY=0

Bùi Chí Bửu

05/10/2008

ICRISAT xây lại Trung tâm ở Nigeria

TINKHOAHOC. Nigeria sẽ trở lại là nước chủ nhà của tổ chức ICRISAT (International Crops Research Institute for the Semi-Arid Tropics). ICRISAT đã là trung tâm nghiên cứu tại Kano, Nigeria vào năm 1987 với bản ghi nhớ (MOU) được ký với tổ chức Agricultural Research Council of Nigeria (ARCN). Tổng Giám Đốc của ICRISAT, William Dar và Giám đốc Hành chính của ARCN, By Abubakar đã ký bản ghi nhớ (MOU) sẽ tái xây dựng lại Trung tâm Quốc tế này tại Nigeria. Hợp tác này nhằm tăng cường các chương trình nghiên cứu ở Nigeria, giữa các nhà khoa học với nhau, tạo thuận lợi cho sự trao đổi quỹ gen, vật liệu lai, thông tin khoa học, và tập trung khả năng phát triển. Đặc biệt là, chương trình và nghiên cứu đào tạo cấp vùng như vậy sẽ tập trung nghiên cứu cao lương, kê và quản lý nguồn tài nguyên thiên nhiên của Tây Phi và Trung Phi. Xem http://www.icrisat.org/Media/2008/media23.htm

Bùi Chí Bửu

Tạo ra Fluorescent Markers để nghiên cứu mô cây bắp

TINKHOAHOC. Giống bắp biến đổi gen thể hiện gen mã hóa protein huỳnh quang xanh lục “green fluorescent protein” (gfp) biểu thị ở ba mức độ trong mô: phôi mầm, nội nhũ, và võ cứng của hạt áo bên ngoài. Cơ quan ARS của Bộ NN Hoa Kỳ, đã phóng thích giống bắp này. Protein gfp đã được phân lập đầu tiên trên sứa biển (jellyfish), được dùng làm chỉ thị phân tử trong nghiên cứu thực vật và động vật. Trong nghiên cứu này,gen gfp được chuyển nạp vào cây bắp và biểu thị tại ba vùng trong hạt bắp. Sử dụng công cụ đo chiều dài sóng phát ra huỳnh tại các mô bắp, người ta có thể xác định marker này. Xem chi tiết http://www.ars.usda.gov/News/docs.htm?docid=1261

Bùi Chí Bửu

Cải tiến cây trồng chống chịu khí hậu

TINKHOAHOC. Tổ chức Global Crop Diversity Trust đang nổ lực nghiên cứu bộ giống cây trồng từ 21 Viện nghiên cứu nông nghiệp đối với những tính trạng giúp cây chống chịu lại những tác động do sự thay đổi hkí hậu toàn cầu. Tổ chức này bao gồm bộ phận “Doomsday seed vault” đặt tại Svalbard, sẽ thanh lọc giống từ ngân hàng gen đối với phản ứng kháng bệnh, khô hạn, mặn, và nhiệt độ cực trọng. "Cây trồng của chúng ta phải sản xuất nhiều lương thực, thực phẩm hơn trên cùng diện tích đất hiện hữu, với nước tưới ít hơn và đòi hỏi năng lượng đắt tiền hơn” Cary Fowler, Giám đốc điều hành của tổ chức này đã giải thích như thế. Ông ghi nhận chính sự thiếu dữ liệu của những tính trạng chủ yếu đã làm nhà chọn giống bị hạn chế để xác định vật liệu ban đầu nhằm tạo ra giống cải tiến tính chống chịu với khí hậu trong nhiều nước. Các nhà khoa học đang thanh lọc giống chickpea và lúa mì tại Pakistan đối với những tính trạng có giá trị kinh tế. Họ cũng đang nghiên cứu giống dừa chịu hạn, rất hiếm tại Sri Lanka, đồng thời kháng sâu bệnh hại chính; thanh lọc mặn các giống khoai lang tại Peru, và xác định cây chuối chống chịu hạn tại Ấn Độ. Xem http://www.croptrust.org/documents/Press%20Releases/Trust%20grants%20release%20FinalSept08.pdf

Bùi Chí Bửu

30/09/2008

Opera 9.6



TINKHOAHOC Opera 9.6 sẽ làm cho máy bạn trình duyệt web nhanh hơn. Xem chi tiết và tải về ở đây http://www.opera.com/products/desktop/next/

28/09/2008

Cây lúa biến đổi gen thể hiện protein chống bệnh cao huyết áp

TINKHOAHOC. Cao huyết áp gây ra bệnh tim mạch và tai biến não, ảnh hưởng hơn 1 tỉ người trên thế giới. Enzyme có tên quốc tế là Angiotensin I-converting enzyme (viết tắt ACE) là enzyme chủ lực trong sự kiện cao huyết áp. Các nghiên cứu cho thấy ức chế được ACE sẽ làm cho giảm áp suất máu. Các nhà khoa học thuộc ĐH Tokyo, Nhật Bản đã phát triển thành công cây lúa biến đổi gen tích tụ cao hàm lượng nicotianamine (NA), một chất ức chế hữu hiệu đối với chức năng của enzyme ACE. Công trình này được công bố trên tạp chí Plant Biotechnology. Họ còn tìm thấy hoạt động ức chế ACE của cây lúa transgenic mang NA, rất mạnh mẽ, ngay cả khi so sánh với thuốc giảm huyết áp đã thương mại hóa antihypertensive peptides. Cây lúa GM này không những hoạt động như một thực phẩm chức năng mới cho sức khỏe loài người, mà còn có thể làm giảm nổi lo âu của đại chúng đối với cây trồng biến đổi gen. Gen mang tính chất marker (selectable marker gene) đối với tính kháng thuốc kháng sinh đã được loại ra nhờ sử dụng hệ thống “Cre/loxP DNA excision’’. Hơn nữa, cây lúa transgenic này được lai với một đột biến cótính chất cleistogamous (hoa không mở, tự thụ phấn) để ngăn ngừa sự di chuyển của gen qua sự phát tán của phấn hoa. Xem chi tiết http://dx.doi.org/10.1111/j.1467-7652.2008.00374.x


Bùi Chí Bửu

Gen cần thiết cho phát triển hoa bắp

TINKHOAHOC. David Jackson và đồng nghiệp thuộc Cold Spring Harbor Laboratory, Hoa Kỳ, đã xác định một gen có vai trò quan trọng trong điều khiển sự phát triển của cây bắp. Người ta gọi gen này là spi1 (sparse inflorescence1) có trong giai đoạn sinh tổng hợp hormone tăng trưởng auxin. Chính hormone này điều khiển sự phát triển cơ quan của cây và ưu thế trội ở đỉnh chồi. Các nhà khoa học đã tìm thấy sự kiện im lặng trong thể hiện gen spi1 làm cho cây cằn lại, cá cơ quan bị khiếm khuyết. Cơ quan khởi đầu quan trọng là sinh mô (meristems) không thực hiện chức năng phân hóa tế bào tương tự như tế bào gốc của động vật. Người ta biết rằng sinh mô xuất hiện trong khoảng giữa giai đoạn tổng hợp auxin nhờ các tế bào khác nhau và chúng di chuyển giữa các tế bào này. Jackson đã nói rằng: "Công trình của chúng tôi đã minh chứng spi1 trong cây bắp đã tiến hóa thành một chức năng trụ cột trong sinh tổng hợp auxin, nó rất cần thiết cho sự phát dục (sự hình thành phát hoa) - tiến trình cần thiết cho cây có hạt trong đó sự hình thành chồi thân giúp cây trổ bông. Xem PNAS tại http://dx.doi.org/10.1073/pnas.0805596105 hoặc http://www.cshl.edu/public/releases/08_corn.html

Bùi Chí Bửu

25/09/2008

Sản xuất Ethanol từ cỏ

TINKHOAHOC. Agroviet-25/9/2008, PNQ dẫn nguồn UPI cho biết: Các nhà khoa học của Mỹ vừa tuyên bố đã nghiên cứu thành công quy trình kỹ thuật sản xuất ethanol với khối lượng lớn nhưng không cần dùng nguyên liệu là những loại cây lương thực mà là từ cỏ, thậm chí từ những bãi phế liệu.

Nữ giáo sư trường đại học Georgia, Joy Peterson, đồng thời là Trưởng khoa Năng lượng sinh học cho hay:“Sản xuất Ethanol từ nguồn năng lượng sinh học tái sinh biomass là vô cùng cần thiết và hữu ích vì chúng rất dồi dào và sẵn có”. Bà Joy đã triển khai dự án của mình cùng với sự giúp đỡ của sinh viên ngành vi trùng học Sarah Kate Brandon và giáo sư Mark Eiteman. Nhóm nghiên cứu cho biết công nghệ mới này có thể làm tăng ít nhất 10 lần lượng đường giải phóng ra từ biomass phục vụ cho quá trình chuyển hóa thành ethanol. Họ cũng cho biết quy trình này thực sự có hiệu quả trong việc loại bỏ sử dụng những chất hóa học đắt tiền và có hại cho môi trường. Công trình nghiên cứu trên đã được Quỹ Nghiên cứu khoa học của Trường Đại học Georgia cấp bằng sáng chế.

http://www.agroviet.gov.vn/portal/page?_pageid=35,280950&_dad=portal&_schema=PORTAL&pers_id=286382&item_id=1155309&p_details=1

21/09/2008

Kết quả đánh giá giống lúa vụ Hè Thu 2008 ở Viện Lúa ĐBSCL



TIN KHOA HỌC. Kết quả đánh giá giống lúa vụ Hè Thu 2008 tại Viện Lúa đồng bằng sông Cửu Long, với 150 phiếu bầu chọn. Giống lúa OM6073 xếp hạng nhất (78 phiếu). Giống OM5199 xếp hạng nhì (43 phiếu). Thông tin chi tiết tại http://www.clrri.org

19/09/2008

Đặc cách công nhận giống sắn KM98-7



TINKHOAHOC Ngày 13/9/2008, Hội đồng KHCN của Bộ NN-PTNT đã nhất trí thông qua đề nghị công nhận đặc cách giống sắn mới KM98-7. Giống sắn mới là kết quả chọn lọc dòng vô tính từ nguồn vật liệu hạt thụ phấn tự do nhận được từ tổ chức CIAT.Tác giả giống là nhóm các nhà khoa học gồm ThS. Trịnh Phương Loan và cộng sự Trung tâm Nghiên cứu và Phát triển Cây Có Củ thuộc Viện Cây Lương thực và Cây Thực phẩm, Viện Khoa học Nông nghiệp Việt Nam (Ảnh trên: Thạc sĩ Trịnh Phương Loan, TS. Lê Quốc Doanh tại hội nghị đầu bờ về các giống sắn KM94, KM98-7 và kỹ thuật canh tác sắn bền vững trên đất dốc ở tỉnh Yên Bái)

Giống sắn KM98-7 có TGST khoảng 7-10 tháng, ngắn hơn các giống đang trồng từ 1-2 tháng. Giống có chiều cao cây trung bình khoảng 2,2 m, số củ trung bình 12,7/cây, chiều dài củ 25-26cm, hệ số thu hoạch 0,57. Năng suất củ tươi có thể đạt trên 40 tấn/ha, với tỷ lệ tinh bột gần 30%. Về hình thái, giống có đặc điểm thân nâu đỏ, ít phân cành, phiến lá nhỏ thùy chia sâu, vỏ củ mầu nâu và ruột củ trắng. Giống KM98-7 thích hợp làm nguyên liệu chế biến và có thể ăn tươi. Khả năng thích ứng của giống với các điều kiện trồng trọt là tốt, trên vùng đất xấu khô hạn vẫn cho năng suất khá hơn các giống khác. Giống sắn KM98-7 đã được trồng thử nghiệm tại nhiều tỉnh thuộc vùng núi phía Bắc và Bắc Trung Bộ, đặc biệt tại hai tỉnh Thái Nguyên và Hòa Bình với diện tích hàng trăm ha, được các địa phương trồng thử hoan nghênh và đề nghị công nhận giống đặc cách.

Trong quy trình kỹ thuật trồng giống sắn KM98-7, các tác giả khuyến cáo việc phát triển giống sắn mới phải theo quy hoạch đất trồng sắn của địa phương, áp dụng biện pháp trồng xen sắn với cây lạc và các biện pháp che phủ chống xói mòn khác để có hiệu quả kinh tế cao và bảo vệ đất.

Báo Nông nghiệp Việt Nam
http://nongnghiep.vn/nongnghiepvn/vi-VN/61/158/45/45/45/21079/Default.aspx



TS. Reinhardt Howeler va TS. Hernan Ceballos trao đổi về dạng thân lá của giống sắn KM98-7 (thân nâu đỏ, ít phân cành, phiến lá nhỏ thùy chia sâu)



Thạc sỹ Trịnh Phương Loan thứ hai bên trái đang thảo luận về các giống sắn KM94, KM98-7, KM140, SC205, KM95-3 là thích họp cho vùng núi và trung du phía Bắc

(Ảnh tư liệu: Hoàng Kim)

11/09/2008

Bón phân cho lúa ngắn ngày vùng phù sa ngọt ĐBSCL



TINKHOAHOC. Viện Lúa Đồng Bằng Sông Cửu Long (ĐBSCL), TS. Phạm Sĩ Tân đã khuyến cáo bón phân cho lúa ngắn ngày (thời gian sinh trưởng 95-100 ngày) vùng phù sa ngọt ĐBSCL: Vụ Đông Xuân đạm 90-110 kg/ha, lân 40-50 kg P2O5 /ha, kali 30-50 kg K2O/ha; Vụ Hè Thu đạm 75-95 kg/ha, lân 50-60 kg P2O5 /ha, kali 30-50 kg K2O/ha. Ứng dụng chất phụ gia Agrotain (dùng hai lít để áo một lớp mỏng bên ngoài cho 1 tấn urea) sẽ tăng thêm 300-500 kg lúa/ ha so với bón urea thường cùng liều lượng hoặc giảm 20-25% lượng phân urea. Phân đạm nên bón “nhẹ đầu, nặng giữa, nhẹ đuôi” theo quy trình đã khuyến cáo. Phân lân nên bón lót cho đến trong vòng 30 ngày sau sạ là tốt nhất; đất phèn cần sử dụng phân lân nung chảy; đất phù sa ngọt có thể dùng super lân và DAP. Phân kali chưa phải là yếu tố cần thiết để tăng năng suất lúa vùng ĐBSCL (theo kết quả sau 21 năm (42 vụ) bón dài hạn NPK cho lúa) mà chỉ có thể là cải thiện chất lượng nông sản và gia tăng sức đề kháng cho cây khi tập quán nông dân ĐBSCL bón quá nhiều phân đạm. Phân hỗn hợp và phân chuyên dùng cho đến nay vẫn phát huy tốt mặt tích cực của nó nhưng sử dụng chúng cho thấy chi phí cao hơn so với bón phân đơn. Chi tiết xem tại http://www.clrri.org/doc/hqpb-Tan.pdf

07/09/2008

Giống ngô Bt kháng sâu Diabrotica không nguy hiểm cho bọ xít lúa

TINKHOAHOC. Sau khi quan sát mật số trên đồng ruộng loài bọ xít lúa có ích, trên vùng có trồng giống ngô biến đổi gen Bt kháng sâu Diabrotica, giống ngô MON88017 cùng với 3 giống ngô bình thường, các nhà nghiên cứu của ĐH Germany's RWTH Aachen và ĐH Göttingen đã kết luận rằng giống ngô MON88017 không có tác động đến bọ xít Trigonotylus caelestialium. Stefan Rauschen và đồng nghiệp đã trồng giống MON88017 kháng sâu đục rễ ngô, dòng gần như đẳng gen DKC5143 và hai giống ngô lai bình thường Benicia và DK315 trên 4 hectare ngoài ruộng nông dân, liên tục 3 năm. Thông qua qui trình thu mẫu “transect-wise sweep net”, họ ghi nhận rằng bọ xít thuộc về trên 5 chủng khác nhau (genus). Bọ xít lúa là loài xuất hiện nhiều nhất, chúng được kiểm nghiệm theo phương pháp ELISA để tìm Cry3Bb1 trong tất cả các giai đoạn sinh trưởng của chúng. Ấu trùng có trung bình 8 nanograms Cry3Bb1. Các nhà nghiên cứu ghi nhận mật số bọ xít lúa trên đồng ruộng luôn luôn giống nhau trên giống MON88017 và dòng đẳng gen. Xem tạp chí Transgenic Research http://www.springerlink.com/content/836p55v111835448/fulltext.html

Bùi Chí Bửu

Gen cây thược dược giúp kiểm soát tính kháng bệnh do vi nấm trên cây lúa

TINKHOAHOC. Thực vật có một vũ khí cần thiết của các gen, đó là sự bảo vệ cây chống lại pathogens. Những gen này mã hóa protein như defensins, có chức năng nhận biết pathogen, truyền tín hiệu và hoạt hóa các phản ứng tự vệ. Sanjay Jha và ctv. thuộc ĐH Baroda, Ấn Độ, nghiên cứu làm cách nào thể hiện Dm-AMP1 trong cây lúa để cây kháng lại nầm gây bệnh đạo ôn Magnaporthe oryzae và bệnh đốm vằn Rhizoctonia solani". Công trình này được công bố trên tạp chí Transgenic Research. Họ đã thành công cho thể hiện defensin kháng vi nấm từ cây thược dược Dahlia merckii vào cây lúa bằng chuyển nạp gián tiếp thông qua Agrobacterium. Họ thấy rằng sự thể hiện Dm-AMP1 làm ức chế sự phát triển của nấm gây bệnh đạo ôn và đốm vằn trên lúa là 84% và 72%, theo thứ tự. Protein tái tổ hợ như vậy được tìm thấy chung thể hiện khá đặc biệt trong vùng “apoplastic” (vùng không gian phân tán giữa các tế bào) trong mô thực vật. Vì sự thể hiện transgene không đi cùng với sự kích thích thể hiện gen có liên quan đến sự kiện phát sinh bệnh (pathogenesis-related gene), nên các nhà khoa học đã kết luận rằng Dm-AMP1 ức chế trực tiếp M. oryzae và R. solani. Xem http://dx.doi.org/10.1007/s11248-008-9196-1

Bùi Chí Bửu

03/09/2008

Hội thảo quốc tế về vị Umami và Glutamate



Theo Tiền Phong Online Thứ tư ngày 3.9.2008, http://www.tienphong.vn/Tianyon/Index.aspx?ArticleID=135676&ChannelID=46 Tại Khách sạn Park Hyatt Sài Gòn, Viện Dinh dưỡng - Bộ Y tế đã tổ chức Hội thảo khoa học về vị Umami và Glutamate với sự tham dự của hơn 250 bác sỹ và các chuyên gia lĩnh vực dinh dưỡng - thực phẩm trong nước và quốc tế.

Cách đây gần 100 năm, Giáo sư người Nhật Kikunae Ikeda - Trường Đại học Hoàng gia Tokyo, Nhật Bản đã chiết xuất thành công Glutamate từ tảo biển và ông đã đặt tên cho vị của glutamate là vị Umami.

Umami được tạo ra bởi glutamate - một trong những axít amin phong phú, được tìm thấy trong tự nhiên và là thành phần chính yếu của chất đạm.

Xuất phát từ khám phá này, sản phẩm bột ngọt lần đầu tiên đã được giới thiệu trên thị trường Nhật Bản vào năm 1909. Với vai trò là một chất điều vị giúp mang lại vị umami cho các món ăn, bột ngọt được sử dụng rộng rãi tại hầu hết các quốc gia trên thế giới.

Từ 1950, Tổ chức Lương nông LHP (FAO) và Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) đã thành lập một Ủy ban các Chuyên gia về phụ gia thực phẩm (JECFA) để đánh giá về tính an toàn của các phụ gia thực phẩm.

Vào năm 1987, hội nghị lần thứ 31 của JECFA tập hợp hơn 237 công trình nghiên cứu khoa học đã đi tới kết luận cuối cùng: bột ngọt được xếp vào danh mục các chất nhìn chung là an toàn trong sử dụng (generally recognized as safe - GRAS) có liều dùng hàng ngày chấp nhận được là không xác định (acceptable daily intake is not specified) và không có bất kỳ khuyến cáo nào đối với trẻ em.

Thùy Trang
(HK: Cám ơn bạn Nguyễn Tử Vương đã gửi tin này)

29/08/2008

Bang Iowa tạo ra giống bắp chuyển gen giàu Pro-Vitamin A



TINKHOAHOC. Phương pháp chuyển nạp gen đã được thực hiện thành công làm gia tăng hàm lượng pro-vitamin A trong hạt bắp. Một nhóm nhà khoa học thuộc ĐH Iowa State, Hoa Kỳ đã báo cáo rằng họ đã phát triển được nhờ sử dụng ngân hàng gen từ giống Hi-II, nó có thể sản sinh ra hàm lượng rất cao provitamin A lên đến 50% nhu cầu trung bình mà Viện nghiên cứu y khoa Hoa Kỳ dự đoán. Dòng bắp này được chuyển nạp gen từ vi khuẩn với gen crtB và crtI chuyên tính trong nội nhũ nhờ một promoter rất hoạt động được cải biên đó là -zein promoter. Các nhà khoa học xác nhận sự gia tăng carotenoids tổng số từ sự thể hiện crtB (tạo men phytoene synthase) và crtI (có trong 4 bước thực hiện “desaturation” trong lộ trình phân giải carotenoid được xúc tác bởi phytoene desaturase và -carotene desaturase ở thực vật). Mức độ carotenoid thu nhận (trên 34-fold) đã được tìm thấy rất phong phú trong ít nhất 4 thế hệ cây chuyển gen. Các nhà dinh dưỡng dự đoán mục tiêu sẽ đạt được 15 µg provitamin A g-1 trọng lượng khô của hạt bắp, giống bắp chuyển gen Iowa State đang tiến gần đến 13.6 µg g-1 provitamin A g-1 trọng lượng khô của hạt. Xem tạp chí Experimental Botany hoặc http://jxb.oxfordjournals.org/cgi/content/abstract/ern212v1?ct=ct

(Bùi Chí Bửu)

24/08/2008

Tổng quan về hiệu qủa sử dụng cây đu đu biến đổi gen

TINKHOAHOC. Hiệu qủa sử dụng đu đủ biến đổi gen đối với những vấn đề trong canh tác đu đủ vẫn chưa được rõ ràng. Nhiều nhà nghiên cứu phát triển đu đủ chuyển gen đã thành lập một nhóm với sự điều hành của Evelyn Mae Mendoza đã thực hiện một chương tổng quan trên Biotechnology Annual Review. Họ mong muốn rằng việc phát triển các giống đu đủ biến đổi gen rất hiệu qủa đối với mục tiêu kháng côn trùng và bệnh như bệnh ringspot virus (PRSV), nhện đỏ và Phytophthora. Các nhóm tác giả khác đang phát triển giống đu đủ kháng độc độc nhôm và kháng thuốc cỏ, chúng có qủa dạng hình dài, và ngay cả việc tạo ra giống đu đủ đóng vai trò vaccine ăn được ngừa bệnh lao và bệnh nang sán (cysticercosis). Mendoza và ctv. nhấn mạnh đu đủ là cây trồng chuyển gen đầu tiên được phát triển ở một viện nghiên cứu nhà nước được thương mại hóa thành công. Hiện có 14 quốc gia được khuyến khích phát triển thông qua những hoạt động hợp tác và những nổ lực độc lập nhằm đưa cây đu đủ kháng PRSV vào sản xuất đại trà. Xem http://dx.doi.org/10.1016/S1387-2656(08)00019-7.

(Bùi Chí Bửu)

Hội Nghị Thông Tin Khoa Học Châu Phi, 2009

Cơ quan Khoa Học và Công Nghệ Nam Phi (SAASTA) tổ chức Hội nghị thông tin khoa học Châu Phi lần thứ hai tại Gauteng, South Africa vào ngày 18-21 tháng Hai, 2009. Xem http://www.saasta.ac.za/2ndascc/pdf/ascc_first_announcement.pdf

20/08/2008

Gen kháng bệnh đạo ôn cây lúa

TINKHOAHOC. Bằng phương pháp chèn gen mã hóa protein chống lại vi sinh vật Mj-AMP2 từ cây hoa “four o'clock flower”, tên khoa học là Mirabilis jalapa, Bishun Deo Prasad và ctv. thuộc ĐH Baroda, Ấn Độ đã phát triển thành công cây lúa biến đổi gen kháng nhiều bệnh do vi nấm gây ra, trong đó có bệnh đạo ôn do Magnaporthe oryzae. M. oryzae, đây là bệnh hại được xem là nghiêm trọng nhất cho tất cả các vùng trồng lúa trên thế giới. Các nòi vi nấm này còn có thể tấn công lúa mạch, kiều mạch và kê. Sự thể hiện protein chống vi sinh vật này biến thiến từ 0.32% đến 0.38% protein tổng số trong cây lúa chuyển gen. Protein này làm giảm tăng trưởng của nấm đạo ôn đến 63% so với cây bình thường, và không có ảnh hưởng gì đến kiểu hình của cây. Sự thể hiện transgene không liên quan đến hình thức thể hiện theo cơ chế PR (pathogenesis-related), các nhà khoa học kết luận rằng Mj-AMP2 trực tiếp tác động đến pathogen. Xem Plant Science tại http://dx.doi.org/10.1016/j.plantsci.2008.05.015

(Bùi Chí Bửu)

16/08/2008

Trang Web: "Ngân hàng kiến thức trồng lúa"



TINKHOAHOC. Xuất phát từ nhu cầu chuyển giao nhanh kết quả nghiên cứu vào sản xuất thông qua ứng dụng công nghệ thông tin, với sự trợ giúp về kỹ thuật của Viện Nghiên cứu lúa Quốc tế (IRRI) và hỗ trợ về tài chính của Chính phủ Nhật Bản thông qua Ngân hàng Phát triển Châu Á (ADB), từ năm 2006, Viện Khoa học Nông nghiệp Việt Nam (VAAS) đã chủ trì và phối hợp với Trung tâm Khuyến nông - Khuyến ngư Quốc gia (NAEFC), Trường Đại học An Giang (AGU), Trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội (HAU) và Tổ chức Tầm nhìn Thế giới - Việt Nam ( WV-V) để xây dựng Ngân hàng Kiến thức trồng lúa (Vietnam Rice knowledge Bank V-RKB) bằng tiếng Việt dưới dạng trang thông tin điện tử trên Internet với địa chỉ: http://www.caylua.vn/. Trang Web cung cấp các kiến thức cơ bản, dễ hiểu và có độ tin cậy cao; được lựa chọn từ nguồn tư liệu phong phú trong nước và từ trang Web Ngân hàng Kiến thức trồng lúa của Viện nghiên cứu lúa Quốc tế. Các giống và biện pháp kỹ thuật phần lớn đã được Hội đồng khoa học chuyên ngành thẩm định, được công nhận cho ứng dụng trong sản xuất. Ngoài ra, trang Web cũng chứa đựng các bài học từ xa về lúa, để giúp người sử dụng có thể tự học và làm bài tập, tự kiểm tra và củng cố kiến thức của mình. Tại những nơi chưa có điều kiện truy cập Internet, người sử dụng vẫn có thể khai thác Ngân hàng Kiến thức trồng lúa dưới dạng đĩa CD, tài liệu được in thành sách, tờ gấp...

9 giống lúa triển vọng cho vụ hè thu ở ĐBSCL

TINKHOAHOC. Ngày 25/7, tại Viện Lúa ĐBSCL, hơn 150 nông dân các CLB lúa giống và cán bộ kỹ thuật của Sở NN-PTNT, Trung tâm giống các tỉnh ĐBSCL đã tham gia hội thảo đánh giá giống lúa vụ hè thu 2007-2008. Đây là vụ lúa chính thứ 2 trong năm các nhà lai tạo giống lúa Viện Lúa ĐBSCL và nông dân muốn đánh giá lại tiềm năng năng suất, khả năng kháng sâu bệnh, phẩm chất hạt, tính ổn định và thích nghi của giống trên những điều kiện thâm canh khác nhau.

Trong 132 giống bình chọn được 9 giống lúa có triển vọng năng suất cao, kháng sâu bệnh và có phẩm chất gạo tốt (xếp theo tỉ lệ bình chọn qua 150 phiếu, cao nhất 78% và thấp nhất 11%): OM6073, OM5199, OM5451, OM6072, OM5464, OM5472, OM5453, OM4088, OM2474. Đây là các "ứng cử viên" thay thế giống bị nhiễm cháy rầy cao như IR 50404. Vụ HT vừa qua, giống IR 50404 bị cháy rầy tới 50% diện tích. Mặt khác, vùng ven biển đang đặt nhu cầu giống lúa chịu mặn cho vùng lúa-tôm đang tăng diện tích.

Hữu Đức

03/08/2008

Hội nghị sắn toàn cầu lần thứ nhất (GCP1)

TINKHOAHOC(http://blog.360.yahoo.com/hoangkim_tinkhoahoc). Hội nghị sắn toàn cầu lần thứ nhất được tổ chức tại Viện Công nghệ Sinh học Cây trồng (IPBO) Trường Đại học Ghent, Bỉ vào ngày 21-25/7/2008. Chủ đề hội nghị là "Cây sắn: Cơ hội và thách thức trước thiên niên kỷ mới". Hơn 300 chuyên gia từ nhiều nước và nhiều tổ chức quốc tế như FAO, Bill Melinda Gates Foundation, Donald Danforth Plant Science Center, IPBO, CIAT, IITA, IFAD, Monsanto, Syngenta, CTA, Alliance,... và những nước trồng và tiêu thụ sắn chính trên thế giới đã đến dự . Hội nghị có 115 báo cáo và 200 pano (trong đó, Việt Nam có 1 báo cáo và 02 pano).

Tin nhanh về hội thảo này mời đọc tại http://cassavaviet.blogspot.com

Hoàng Kim

14/07/2008

Ấn Độ phát triển giống đậu phọng chịu hạn

TINKHOAHOC. Nông dân Ấn Độ sẽ sớm tiếp cận với giống đậu phọng chống chịu khô hạn để trồng chúng ở những vùng thiếu nước nghiêm trọng. Bản đồ gen đậu phọng đã giúp cho nhà chọn giống tìm thấy các vùng giả định trên genome điều khiển tính chống chịu này, theo Rajeev K. Varshney, khoa học gia thâm niên của ICRISAT. Trong 2006, tại 533 trạm quan trắc khí tượng cấp quận, có 112 trạm ghi nhận được mưa. Quỹ tài trợ Bill and Melinda Gates đã hỗ trợ kinh phí cho nghiên cứu này. Dự kiện kết quả sẽ phục vụ cho 26.4 triệu ha của gần 100 nước đang phát triển bao gồm các nước trồng đậu phọng lớn như Trung Quốc, Ấn Độ, Nigeria, Hoa Kỳ, Indonesia và Sudan. Xem chi tiết - Rajeev Ranjan Roy, India PRwire/Indo Asian News Service, July 3, 2008 http://www.indiaprwire.com/businessnews/20080703/31467.htm

(Bùi Chí Bửu)

Nông dân Ấn Độ phát triển cây cà tím biến đổi gen

TINKHOAHOC. Ủy ban xét duyệt công nghệ di truyền Ấn Độ (GEAC) đã chấp nhận đơn yêu cầu của Maharashtra Hybrid Seed Co. (Mahyco) vào tháng 5-2008, để bắt đầu sản xuất hạt giống cây cà tím biến đổi gen Bt, cry1Ac, kháng sâu đục thân, sâu đục quả. Xem chi tiết: Andrew Leonard, Salon, July 1, 2008 http://www.salon.com/tech/htww/2008/07/01/genetically_modified_eggplant/

(Bùi Chí Bửu)

27/06/2008

Phú Yên: Lai tạo thành công 4 dòng lúa lai

Trại giống Hòa An (thuộc Trung tâm Giống và Kỹ thuật cây trồng Phú Yên) đã sản xuất thành công 4 dòng giống lúa là 15-1, 52-2, 52-1 và 20-1.

Cả 4 dòng lúa trên được chọn lọc từ 7 dòng lúa mà Trại giống đã tiến hành lai tạo từ năm 2002 và đưa vào khảo nghiệm từ năm 2006. Đến nay, cả 4 giống lúa trên đều đã được canh tác trên diện tích hơn 12 ha phù hợp với điều kiện tự nhiên và thổ nhưỡng ở địa phương và đạt năng suất cao.

Theo đề nghị của trại giống, ngành nông nghiệp chuẩn bị đưa vào khảo nghiệm sản xuất trên tích 5ha/vụ đối với từng giống ngay vụ hè thu năm 2008. Sau khi khảo nghiệm thành công, Trại giống Hòa An sẽ đề nghị Bộ NN-PTNT công nhận và đặt tên mới cho 4 giống lúa này.

(NGUYÊN HƯƠNG)
Theo Nông Nghiệp
http://nongnghiep.vn/nongnghiepvn/vi-VN/61/158/45/45/45/9473/Default.aspx

Nguyễn Chí Công
http://luagao.blogspot.com

Giống lúa lai B-TE1

Phạm Quang Thuyên. Báo Nông nghiệp. Giống lúa lai 3 dòng chất lượng cao B-TE1 là giống lúa lai đầu tiên được Bộ NN-PTNT công nhận chính thức trên phạm vi cả nước. Vụ mùa 2008 Cty Bayer Việt Nam đã có kế hoạch cung ứng cho các địa phương miền Bắc một lượng giống rất lớn: 700 tấn. Sau đây là một số giải đáp thắc mắc của bà con về giống lúa lai mới này.

Giống B-TE1 có xuất xứ từ đâu và được các cơ quan chức năng đánh giá như thế nào?

- Giống lúa lai Arize B-TE1 do Cty Bayer CropScience tại Ấn Độ lai tạo và sản xuất, B-TE1 đã được thử nghiệm qua chương trình khảo nghiệm giống Quốc gia và trình diễn trên diện rộng tại Việt Nam kể từ năm 2004. B-TE1 đã thể hiện được những ưu điểm như cho năng suất cao, chất lượng gạo tốt, sức chống chịu sâu bệnh cao đặc biệt là bệnh bạc lá và đạo ôn. Giống B-TE1 là giống lúa lai duy nhất hiện nay nhận được nhiều phần thưởng uy tín: Cúp Vàng Nông nghiệp do Bộ NN-PTNT trao tháng 9/2007; cúp Bạn nhà nông do Bộ Công Thương trao tháng 12/2007 và cúp Bông lúa vàng Việt Nam 2008 do Bộ NN-PTNT trao ngày 29/4/2008.

Giống B-TE1 cấy được trên những chân đất nào?

- Đây là giống lúa thích ứng rất rộng, không chỉ phù hợp với chân đất trồng hệ Bác ưu, Xi 23, C70, C71 mà còn thích hợp các chân đất trồng các giống ngắn ngày như Khang dân 18, Q5… với điều kiện chân ruộng đó chủ động tưới tiêu và thời vụ gieo từ 5 - 25/6 hàng năm là phù hợp.

Có phải giống B-TE1 là giống sử dụng lượng hạt giống ít nhất hiện nay?

- Do hạt giống nhỏ, khối lượng 1.000 hạt chỉ 17- 18 gam và được xử lý bằng thuốc BVTV của Bayer nên tỷ lệ nảy mầm rất cao > 90% (thậm chí là 99%). Do vậy, trong vụ mùa 2007 rất nhiều hộ nông dân đã gieo 1 gói 800gam trên 40 m2 mạ dược đã cấy được 1,5 – 1,8 sào Bắc bộ. Đây là giống lúa lai đầu tiên sử dụng công nghệ lai tạo tiên tiến có chất lượng hạt giống cao, sử dụng lượng giống ít nên tiết kiệm được tiền giống cho bà con nông dân (nếu làm theo quy trình hướng dẫn thì tiền giống sẽ rẻ hơn trồng các giống lúa thuần trong vụ mùa 2008 này).

Sức chống chịu sâu bệnh và điều kiện ngoại cảnh của B-TE1 như thế nào?

- Cty đã kết hợp với Viện Bảo vệ Thực vật và Trung tâm Khảo nghiệm Giống, sản phẩm Cây trồng và Phân bón Quốc gia để kiểm tra tính chống chịu sâu bệnh, kết quả như sau:

B-TE1 kháng đạo ôn (cấp 1), chống rầy nâu trung bình (cấp 5), chống bạc lá tốt hơn giống Bác ưu 903 là giống du nhập vào Việt Nam từ năm 1991 (đã 17 năm trồng ở miền Bắc Việt Nam nên đang bị thay thế dần vì nhiễm bệnh bạc lá nặng). Tuy nhiên, giống như các giống lúa thơm khác, giống B-TE1 cũng mẫn cảm với sâu đục thân. Do vậy, đề nghị bà con gieo cấy tập trung và đúng thời vụ như khuyến cáo để mang lại hiệu quả kinh tế cao hơn.

Năm nay miền Bắc gặp 38 ngày rét đậm làm kéo dài TGST từ 10 -15 ngày. Ruộng của chúng tôi sẽ thu hoạch từ ngày 25 - 30 tháng 6, vậy có thể cấy giống lúa B-TE1 được không?

- Nếu thu hoạch muộn nhất là ngày 30/6/2008, chúng ta có 10 – 15 ngày làm đất. Nhiều địa phương yêu cầu cấy xong trước 10/7 thì chúng ta có thể áp dụng phương pháp gieo mạ dày xúc hoặc mạ dày nhổ sau 15 ngày chúng ta cấy vẫn đảm bảo thời vụ và đạt hiệu quả kinh tế cao.

Tuy nhiên, năm nay hầu hết các ruộng làm đất chưa được ngấu đã phải cấy để đảm bảo thời vụ, để khắc phục hiện tượng ngộ độc đất do gốc rạ chưa hoai mục gây ra, bà con nông dân nên bón 10 - 15 kg vôi bột/sào Bắc bộ khi làm đất để cây lúa có thể sinh trưởng phát triển tốt.

Nguyễn Chí Công
http://luagao.blogspot.com
(theo báo Nông nghiệp: http://nongnghiep.vn/nongnghiepvn/vi-VN/61/158/45/45/45/15218/Default.aspx)

24/06/2008

Ngô lúa chuyển gen tăng khả năng chống chịu khô hạn

TINKHOAHOC. Cây trồng có tính chống chịu khô hạn đã được phát triển thành công thông qua biến đổi gen, thí dụ như sử dụng các gen mã hóa nguyên tố điều tiết áp suất thẩm thấu [osmoprotectants] (phần lớn là sugar alcohols), các hợp chất “zwitterionic” và các chất bảo vệ protein. Cây chuyển gen như vậy đã thích ứng với điều kiện thiếu nước ở mức độ trong phòng thí nghiệm và ở nhà lưới. Các thí nghiệm trong phòng thí nghiệm cho thấy cây thể hiện tính chống chịu thông qua nhiều cơ chế họat động rất khác nhau. Các nhà khoa học thuộc Công ty Monsanto đã chứng minh những protein có tính chất “cold shock” của vi khuẩn (Csp) cũng có thể liên quan đến khả năng đáp ứng với stress trong nhiều loài cây trồng. Csp thuộc họ của “molecular chaperones”, hỗ trợ ribonucleic acids (RNA). RNA có xu hướng trở thành bẩy gen ở dạng gấp sai (misfolded forms), và CSP proteins, họat động như chaperones, có thể phân giải cấu trúc này. Cây lúa chuyển gen, cây bắp chuyển gen thể hiện Csp proteins (của E. coli và B. subtilis) đã cải tiến đáng kể tính chống chịu stress phi sinh học, như lạnh, nóng và thiếu nước. Điều quan trọng là, những cải tiến này trên đồng ruộng không làm năng suất giảm. Xem chi tiết ở tạp chí Plant Physiology http://www.plantphysiol.org/cgi/content/full/147/2/446

(Bùi Chí Bửu)

Cẩm nang về bắp giàu protein

TINKHOAHOC. Trung tâm Nghiên cứu Ngô và Lúa mì Quốc tế CIMMYT vừa in xong quyển sách "Breeding Quality Protein Maize (QPM): Protocols for developing QPM cultivars", một cẩm nang cho các nhà chọn giống bắp sử dụng về việc phát triển giống bắp QPM. Xem http://www.cimmyt.org/english/docs/manual/protocols/qpm_protocols.pdf hoặc viết thư lvillasenor@cgiar.org để biết thêm chi tiết.

11/06/2008

Phân lập gen điều khiển tiềm năng năng suất lúa

TINKHOAHOC. Các nhà khoa học thuộc Viện Nghiên cứu Nông Nghiệp Huazhong, Trung Quốc đã xác định một gen có vai trò qui định tiềm năng năng suất cây lúa, cũng như khả năng đáp ứng của cây đối với khí hậu lạnh. Nghiên cứu này đã được công bố trên tạp chí Nature Genetics. Năng suấ lúa được xác định bởi nhiều hợp phần tính trạng, như số hạt trên bông, chiều cao cây và thời gian trổ. Những nghiên cứu trước đó đã phân lập một vùng giả định trên nhiễm sắc thể số 7 có ảnh hưởng đến các tính trạng này, những gen nào điều khiển thì chưa xác định. Tiến sĩ Qifa Zhang và cộng sự viên đã thanh lọc hàng nghìn cây lúa, tìm cách nhận diện gen mục tiêu như vậy. Họ tìm thấy sự kiện mất đọan của gen Ghd7 sẽ làm cho cây lúa thấp hơn và có ít hạt trên bông. Có 5 cách biểu hiện khác nhau của gen Ghd7. Cách thức kém họat động hoặc không họat động được tìm thấy trong cây lúa sinh trưởng ở ôn đới. Điều này làm cho cây lúa có thể trồng ở những nơi mà mùa vụ gieo trồng qúa ngắn. Xem chi tiết tại http://www.nature.com/ng/journal/vaop/ncurrent/abs/ng.143.html

(Bùi Chí Bửu)

26/05/2008

Sản xuất lúa lai ở Đồng Bằng Sông Hồng: Triển vọng của nông dân.

Trần Đức Viên, 2007. Trong tạp chí: Hội thảo quốc tế lúa lai và hệ sinh thái nông nghiệp. Trường ĐHNN 1 Hà Nội, ngày 22 – 24 tháng 11 năm 2007. Nhà xuất bản Nông Nghiệp, trang 12.

Nghiên cứu này nhằm đánh giá về hiện trạng sản xuất lúa lai ở Đồng bằng Sông Hồng, tập trung vào đánh giá và nhận thức của nông dân về lúa lai. Những giống lúa lai chính gồm Nhị ưu 838 và Dân ưu 527 (Trung Quốc), TH3 – 3 (Việt Nam), và giống lúa cải tiến là Bắc Thơm 7 (BT7) và Khang Dân (KD) được sử dụng trong nghiên cứu này. Chúng tôi tiên hành phỏng vấn 100 hộ nông dân trồng lúa tại tỉnh Hà Tây và Nam Định. Phương pháp phân tích Chi phí – Lợi nhuận được dùng để đánh giá hiệu quả kinh tế của các giống lúa mang lại. Mô hình logit được sử dụng để phân tích về sự chấp nhận của nông dân đối với lúa lai. Kết quả nghiên cứu cho thấy việc phân loại các giống lúa của nông dân dựa vào giá trị sử dụng của chúng đồng thời tránh rủi ro. Nhìn chung các giống lúa lai Trung Quốc yêu cầu nhiều phân hóa học nhiều hơn, nhưng chất lượng gạo thấp hơn và làm cho đất canh tác thoái hóa nhanh hơn so với lúa thuần. Hơn nữa, giá lúa lai thương phẩm cũng thấp hơn so với lúa thuần (BT7). Ngược lại, lúa lai cho năng suất cao hơn và được đánh giá sinh trưởng tốt hơn trong những điều kiện thời tiết bất thuận (lụt hay hạn). Trong vụ xuân, trồng giống TH3 – 3 cho lợi nhuận cao nhất. Có nhiều yếu tố quyết định đến việc chấp nhận lúa lai của nông dân bao gồm kinh nghiệm và trình độ học vấn của chủ nông hộ, điều kiện kinh tế xã hội của nông dân, số lao động của nông hộ, thời vụ, và tất nhiên là năng suất của lúa lai. Lúa lai nhìn chung tập trung ở những hộ có kinh nghiệm sản xuất và trình độ học vấn thấp. Ngoài ra thì nông dân thích trồng lúa lai trong vụ xuân nhiều hơn. Điều này trái ngược với các nước châu Á khác là nông dân có vẻ lạc quan về lúa lai. Tuy thế, tương lai của lúa lai thế nào còn phụ thuộc vào việc theo dõi kế hoạch sản xuất của nông dân, vấn đề này vẫn chưa rõ ràng. Ba đề xuất chính sách quan trọng được đưa ra là: sự cần thiết phát triển dù lúa lai hay lúa thuần cần có cả chất lượng tốt và năng suất cao (i), chính phủ cần quan tâm hơn nữa trong việc đẩy mạnh sản xuất hạt giống (ii), liên kết trong khuyến nông cần mạnh mẽ hơn (iii).

Nguyễn Chí Công, NH30
(chọn tin và gửi bài)

Mời bạn cùng lên đường!

Mời bạn cùng lên đường!