25/09/2009

Tư duy khoa học là món quà quí giá của nhân loại



TINKHOAHOC. "Tư duy khoa học là món quà quí giá của nhân loại" Lời của Norman Borlaug nhà khoa học vĩ đại, đoạt giải Nobel hoà bình, được xem nhà cách mạng xanh đầu tiên của thế giới đã được Diane Katz trích dẫn tại trang The Star để tưởng nhớ nhà khoa học và nhân đạo học số một của nhân loại đã từ trần ngày 12 tháng 9 năm 2009 tại Mỹ. Đó cũng là tiêu đề của bài viết "Người tìm thấy những kẻ bảo thủ hiện đại" trong loạt bài điểm tin khoa học tuần này của GS.TS. Bùi Chí Bửu.

Người tìm thấy những kẻ bảo thủ hiện đại
Norman Borlaug nhà khoa học vĩ đại, đoạt giải Nobel hoà bình, được xem như nhà cách mạng xanh đầu tiên của thế giới. Công trình của ông về giống lúa mì cao sản kháng bệnh đã cứu sống hàng trăm triệu người; vì sản lượng tăng gấp đôi so với trước giai đoạn 1960-1990. Borlaug đã qua đời vào ngày 12-9-2009 ở tuổi 95. Norman Borlaug thực sự đã cứu sống 1 tỷ người trên quả đất này tại Mexico, Ấn Độ và Pakistan. Người có tuổi thọ 95 năm này đã nhắc nhở chúng ta rằng: tư duy khoa học là món quà quí giá của nhân loại. Phát động cuộc cách mạng xanh trên thế giới với cái gọi là "Green Revolution", ông được tặng thưởng giải Nobel vào năm 1970. Người ta đã phê phán ông quá nhấn mạnh đến thâm canh giống cao sản, bao gồm việc sử dụng phân đạm, tưới tiêu làm ảnh hưởng đến môi trường [thuật ngữ: môi trường bị stress]. Dư luận phản đối có từ 1962 xuất phát từ bài viết của Rachel Carson's Silent Spring (Mùa Xuân Im lặng của Bà Carson). Nhưng Borlaug đã không nãn lòng trước những kẻ bảo thủ hiện đại như vậy [Neo-Luddites]; ông nhanh chóng ghi nhận rằng chính nhờ sự cải tiến năng suất cây trồng đã ngăn chận được sự chuyển đổi đất rừng thành đất trang trại. Ông nói trên “Reason magazine” trong cuộc đối thoại vào năm 2000 về 17 loài cây trồng quan trọng của Hoa Kỳ từ 1960 ước chừng 252 triệu tấn; tăng lên gấp đôi vào năm 1990 (596 triệu tấn) và làm giảm đi 25 triệu acres so với 30 năm trước đó. Mọi nỗ lực của ông nhằm giải quyết nạn đói ở Sub-Saharan Africa đều bị cản trở bởi những phản kháng đáng xấu hỗ của hoạt động lobby về môi trường. Việc ngăn cấm thực phẩm biến đổi gen ở Châu Âu, các đối thủ đã thành công về một châu lục đói kém nhất. Giữa những cơn hạn hán chết người vào năm 2003, các nhà đương chức của Zambia và Zimbabwe thay đổi chính sách hướng về Hoa Kỳ viện trợ lương thực, nói rằng họ thà chết còn tốt hơn là cho phép lương thực biến đổi gen xâm nhập vào nước họ. Nhờ trời, các viên chức chính phủ này đã quan tâm nhiều hơn đến việc lấp đầy cái dạ dày so với việc sửa đổi các sắc lệnh khi Borlaug sáng tạo ra cái gọi là “life-saving seeds” của ông. Công nghệ sinh học cứu rỗi cuộc sống nhiều hơn là đe doạ cuộc sống. Thật vậy, cuộc đời của Norman Borlaug là một bức chúc thư cho chúng ta về tiềm năng của hàng hoá và nguồn lực của trí tuệ khoa học phục vụ nhân loại. Theo bài viết của Diane Katz, The Star, Sep 20, 2009 http://www.thestar.com
Ghi chú: Diane Katz la giám đốc của Viện Fraser về Chính sách Năng lượng Môi trường và Rủi ro (Director of risk, environment and energy policy for the Fraser Institute).

Sự mất gen số lượng qPE9-1 liên quan đến tính trạng mọc thẳng của bông lúa trong quá trình thuần hoá
Yong Zhou và ctv. thuộc Jiangsu Key Laboratory of Crop Genetics và Physiology/Key Laboratory, Plant Functional Genomics, Yangzhou University, Trung Quốc đã nghiên cứu kiến trúc cây lúa; đặc biết là tính mọc thẳng của bông lúa japonica. Cơ chế có tính chất phân tử trong quá trình thuần hoá từ lúa hoang sang lúa trồng vẫn còn phải nghiên cứu nhiều hơn. Các tác giả thực hiện kỹ thuật “map-based cloning” một locus số lượng quan trọng qPE9-1, điều khiển tính trạng mọc thẳng của bông lúa. Gen R6547 qPE9-1 mã hoá một protein có 426-amino-acid, đồng dạng với protein liên quan với họ keratin-5-4. Gen này gồm có 3 yếu tố Von Willebrand thuộc dạng C domains, một domain màng, và một domain gốc có tính chất 4-disulfide. So sánh kiểu hình của một bộ các dòng gần đẳng gen [near-isogenic lines] và các dòng chuyển gen cho thấy tính chất của alen chức năng qPE9-1 làm cho bông lúa rủ xuống. Một đột biến mất chức năng [loss-of-function mutation] qpe9-1 đã tạo ra hiện tượng có nhiều bông lúa hơn. Locus qPE9-1 điều khiển tính trạng bông lúa, chiều dài hạt thóc, trọng lượng hạt và năng suất hạt. Tính trạng mọc thẳng đứng của bông lúa là kết quả của đột biến mất chức năng xảy ra ngẫu nhiên đối với gen qPE9-1 trong giống lúa japonica.Xem chi tiết trên tạp chí Genetics, Vol. 183, 315-324, September 2009, hoặc http://www.genetics.org/cgi/content/abstract/183/1/315?etoc viết thư ricegb@yzu.edu.cn.

Thế giới tốt hơn: Hãy học và yêu kỹ thuật di truyền
Michael Le Page đã viết trong tạp chí New Scientist ngày 14-9-2009 về tương lai của chúng ta trong năm 2040, với 9 tỷ người trên trái đất. Thách thức này được thể hiện thông qua khủng hoảng nhiên liệu dầu hoả, thay đổi khí hậu, lương thực tăng không đủ với tăng dân số. Hiệu ứng nhà kính với cái gọi là “nitrous oxide”, một sản phẩm có từ phân đạm. Kế đến là khí mê tan từ phân chuồng và thức ăn gia súc. Nhằm đáp ứng nhu cầu lương thực và nguồn vật liệu khác như biofuels, chúng ta đang phải khai thác cực kỳ hạn chế trong khả năng có thể được. Công nghệ di truyền có thể làm cho thế giới vật chất tồi tệ hơn ư. Thí dụ, tổ chức Craig Venter's Synthetic Genomics và những công ty khác đang phát triển những vi khuẩn làm chuyển hoá than đá, nhựa đường và dầu hoả thành khí mê tan. Điều này làm thải ra một lượng khí gây hiệu ứng nhà kính cực lớn. Sự cải biên di truyền có thể tạo ra hiệu quả sử dụng thoả đáng. Nó là chìa khoá làm tăng năng suất dầu hoả từ tảo [algae] mọc ở ao hồ và chuyển hoá dư thừa thực vật thành năng lượng. Cây trồng sẽ sử dụng nitrogen hiệu quả hơn rất nhiều, cần lượng phân N cực nhỏ bón cho nó. Điều này sẽ làm giảm hiện tượng “nitrous oxide emissions” và “nitrogen run-off” mà chúng đã từng gây thảm hoạ cho các vùng chết trên đại dương. Cây chống chịu mặn sẽ được trồng trên vùng đất bị nhiễm mặn do nươc biển dâng. Cây chống chịu hạn có thể phát triển rộng rải hơn. Cây lúa có chu kỳ C3 sẽ chuyển thành cây C4 thực hiện quang tổng hợp mạnh mẽ cho năng suất cao hơn. Sâu bệnh hại sẽ được kiểm soát nhờ cây trồng biến đổi gen mà không cần sử dụng thuốc hoá học. Bệnh “ringspot virus” làm giảm 50% sản lượng đu đủ tại Hawaii trước khi giống kháng GM ra đời năm 1998. Lúa vàng “Golden Rice” là giải pháp giúp người nghèo thoát bệnh thiếu vitamin A gây hội chứng mù mắt. Xem chi tiết http://www.newscientist.com/article/

Thông Báo Đại Hội AgriGenomics Thế Giới
Đại Hội AgriGenomics Thế Giới sẽ diễn ra tại Bỉ vào ngày 8-9 tháng Bảy năm 2010. Xem chi tiết http://www.selectbiosciences.com/conferences/AGWC2010/

Keynote Speaker: Martin B Dickman, Professor and Director, Institute for Plant Genomics and Biotechnology
Agenda Topics:
* RNA silencing mechanisms in plants
* The use of microarrays and bioinformatics
* Optimisation of growth for food and biofuel
* Enhancing plant resistance to disease
* Disease resistance in livestock
* Genetic engineering to increase yield from livestock

Thay đổi số trung bình phân tử transcript trong mỗi tế bào liên quan đến tình trạng bất thường của đàn ong mật (Apis mellifera)
Tình trạng tan vở bất thường của đàn ong có tên tiếng Anh là “colony collapse disorder” viết tắt CCD là hiện tượng biến mất của đàn ong rất bí ẩn tại Hoa Kỳ kể từ cuối năm 2006. Pathogens và những stress do môi trường, bao gồm cả thuốc sâu, đã được ghi nhận dính líu đến sự kiện CCD, nhưng quan hệ nhân quả này vẫn chưa được chứng minh một cách khoa học. Bởi vì cơ quan tiêu hoá của ong đóng vai trò như một giao diện ban đầu giữa ong mật và môi trường của nó, nơi mà pathogen và độc tố xâm nhập vào cơ thể ong. Johnson và ctv. đã sử dụng phương pháp so sánh sự thể hiện gen thông qua kỹ thuật microarrays giữa ruột của các con ong từ đàn ong CCD có nguồn gốc ở miền Đông và miền Tây Hoa Kỳ, ruột ong của đàn ong khoẻ mạnh, mẫu đã được lấy trước khi có sự kiện CCD xảy ra. Biến thiên trong sự thể hiện gen có liên quan đến khởi nguyên địa lý của bầy ong, nhưng trong một danh mục có tính nguyên tắc với 65 phân tử transcripts đã được người ta phân lập là những chỉ thị phân tử đầy tiềm năng đối với tình trạng CCD. Nhìn chung, sự thể hiện của các gen phản ứng với thuốc sâu không được quan sát ở đây. Các gen đặc trưng điều khiển phản ứng miễn dịch không có xu thế rõ ràng đối với bệnh do virus và những pathogens khác trong bầy ong CCD. Phân tích microarray cho thấy những đoạn phân tử không có ích RNA trong ribosome, chúng thay đổi số phân tử trong mỗi tế bào rất rõ ràng ở ruột ong thuộc đàn CCD. Sự có mặt của những đoạn phân tử như vậy có thể là kết quả của sự lây nhiễm do “picorna-like virus”, bao gồm “deformed wing virus” và “Israeli acute paralysis virus”, và cũng có thể liên quan đến hiện tượng giải mã bị ngưng trệ. Hiện tượng thay đổi đoạn phân tử RNA tại ri bô thể và sự có mặt của nhiều virus như vậy, chứng minh được những markers chẩn đoán bầy ong bị nhiễm CCD. Đọc bài của M. Johnson, http://www.pnas.org/content/106/35/14790.abstract?etoc July 14, 2009 trên tạp chí PNAS

Cơ sở lý học của sự kiện mưa nhiều do thay đổi khí hậu trong thế kỷ 21
Sự ấm lên của trái đất sẽ làm gia tăng hơi nước trong khí quyển và làm thay đổi chu kỳ thuỷ phân, điều này sẽ làm cho mưa nhiều hơn, cực trọng hơn. Mức độ cực trọng của mưa sẽ duy trì lượng hơi nước cao trong khí quyển. Ở vùng nhiệt đới, lượng mưa cực trọng như vậy chưa được mô phỏng chính xác. Ở vùng không phải nhiệt đới điển hình, lượng mưa gia tăng ít hơn sự gia tăng của hơi nước trong khí quyển. Đối với vùng nhiệt đới, lý thuyết dựa theo mô phỏng cho thấy phải cải tiến phương pháp mô hình hoá về tốc độ của hướng đi trong các mô hình khí hậu để có những dự báo chính xác. Đối với vùng không phải nhiệt đới, thống nhất giữa lý thuyết và thực tế về những mô hình khí hậu khá tin cậy. Xem chi tiết Paul A. O'Gorman and Tapio Schneider, Massachusetts Institute of Technology, Cambridge, MA 02139; and California Institute of Technology, Pasadena, CA 91125, July 14, 2009 http://www.pnas.org/content/106/35/14773.abstract?etoc

Động thái chuyển dịch và hiệu quả kinh tế của việc chủng ngừa bệnh dại trên chó và người tại một thành phố của Châu Phi
Bệnh dại gây ra cho người tại các nước đang phát triển có thể được ngăn ngừa thông qua chủng vaccine dại trên chó. Hiệu quả tiết kiệm được cho sức khoẻ cộng đồng đã được đánh giá. Các mô hình có tính chất “nhân quả” về động thái chuyển dịch bệnh dại giữa các con chó được phát triển rộng ra thành mô hình giữa chó và người. Các thông số trong mô hình được nhập hàng tuần tại thành phố N′Djaména, thủ đô của Chad. Hệ số chuyển dịch từ các con chó (βd) là 0.0807 km2/(dogs•week) và giữa chó với người (βdh) 0.0002 km2/(dogs•week). Tỷ lệ sinh sản (Re) theo quan sát là 1.01, cho thấy mức độ ổn định rất thấp của dịch hại lan truyền. Bệnh dại trên người tuỳ thuộc vào các thông số của chó. Một chiến dịch tiêm phòng chó dại tác động ít nhất 70% yêu cầu ít nhất 6 năm. Hiệu quả chủng ngừa vaccine cho chó được so sánh với xử lý sau khi bị chó cắn [postexposure prophylaxis; PEP], được xem xét tại Chad. PEP không làm giảm người mắc bệnh trong tương lai. Hiệu quả kinh tế ước tính là 46 USD cho một bệnh nhân.Xem chi tiết J. Zinsstag và ctv., http://www.pnas.org/content/106/35/14996.abstract?etoc

Xác định tyrosylprotein sulfotransferase trong cây mô hình Arabidopsis
Tyrosine sulfation là một hiện tượng cải biên hậu giải mã trong sinh tổng hợp peptides và proteins do quá trình bài tiết trong hầu hết sinh vật bậc cao eukaryotes. Đối với thực vật, sự cải biên này rất cực trọng khi hoạt động sinh học của một nhóm các peptide hormones thí dụ như PSK và PSY1. Đối với động vật, tyrosine sulfation được xúc tác bởi Golgi-localized type II transmembrane proteins gọi tắt là tyrosylprotein sulfotransferases (TPSTs). Để nghiên cứu cơ chế của tyrosine sulfation trong thực vật, người ta tinh lọc hoạt tính của TPST từ những đoạn siêu nhỏ tế bào sô ma của cây mô hình Arabidopsis MM2d, và được phân lập đó là protein 62-kDa hoạt động chuyên biệt với sulfation motif của tiền chất peptide PSY1. Protein này là protein màng type I có 500-aa, nó không có chuỗi trình tự tương đồng với TPSTs của động vật. Một mô hình tái tổ hợp của protein này thể hiện trong phản ứng xúc tác của men “yeast” - tyrosine sulfation của cả hai tiền chất polypeptide PSY1 và PSK in vitro. Điều này cho thấy protein vừa mới được xác định là Arabidopsis (At)TPST. AtTPST biểu hiện ở tất cả cơ quan thực vật, cao nhất tại đỉnh sinh mô rễ. Đột biến “loss-of-function” của AtTPST cho thấy một kiểu hình lùn được phối hợp với dạng rễ ngắn, lá xanh nhạt, giảm hệ thống mạch dẫn, hoá già sớm, giảm số hoa và quả. Kết quả cho thấy thực vật và động vật có hàm lượng tyrosine sulfation enzymes độc lập nhau trong quá trình tiến hoá tự nhiên. Xem Ryota Komori, http://www.pnas.org/content/106/35/15067.abstract?etoc

20/09/2009

Thông tin lúa lai, phân viên nén, kỹ thuật hạn chế lúa lép



TINKHOAHOC. Trang LUAGAO của Nguyễn Chí Công đã thu thập các thông tin về tiến bộ kỹ thuật mới đây ở Việt Nam trong nghiên cứu và sản xuất CÂY LƯƠNG THỰC gồm các tin chính: Việt Lai 50: Bước đột phá lúa lai Việt, bài viết của thạc sỹ Nguyễn Tuấn; Nhân, duy trì thành công hạt giống dòng mẹ Nhị 32A, bài viết của thạc sỹ Dương Thành Tài, Phó TGĐ Công ty Cổ phần Giống Cây Trồng Miền Nam (SSC); Qui trình bón phân viên nén cho lúa cấy, bài viết của Công Hào; Kỹ thuật hạn chế lúa lép, bài viết của Đỗ Quảng (ảnh tư liệu Hoàng Kim: Ruộng chọn tạo giống lúa lai của PGS.TS. Nguyễn Văn Hoan, Trường Đại học Nông nghiệp 1, Hà Nội)

VIỆT LAI 50 BƯỚC ĐỘT PHÁ LÚA GẠO VIỆT

Th.S Nguyễn Tuấn

LUAGAO - Trong những năm gần đây diện tích gieo cấy lúa lai của Việt Nam ngày càng tăng. Theo báo cáo sơ kết của Cục Trồng trọt, diện tích lúa lai thương phẩm vụ đông xuân 2009 đạt 378.509 ha, chiếm 32,6% so với tổng diện tích lúa của miền Bắc. Vùng đồng bằng sồng Hồng đạt 142.246ha, chiếm 25% diện tích, một số tỉnh có diện tích tăng mạnh là Hải Dương tăng 4.564ha, Bắc Ninh tăng 6.395ha, Nam Định tăng 6.390ha…Hàng năm nhu cầu cần 15.000 – 18.000 tấn giống lúa lai để phục vụ sản xuất đại trà, trong đó Việt Nam đã chủ động 30%, còn lại nhập khẩu từ Trung Quốc.

Có được kết quả trên do có chủ trương đúng đắn của các cấp, các ngành từ Trung ương tới địa phương, nhất là có sự đóng góp to lớn của các nhà khoa học trong lĩnh vực nghiên cứu chọn tạo giống lúa lai. Đối với lúa lai 3 dòng, tổng kết cho thấy sản xuất hạt lai F1 năng suất thường thấp, chất lượng không cao vì vậy giá thành không hạ là mấy so với lúa nhập khẩu, vì vậy các nhà khoa học tập trung vào nghiên cứu chọn tạo các tổ hợp lúa lai 2 dòng.

Đến nay chúng ta đã rất thành công trong lĩnh vực này, nhiều tổ hợp lúa lai hai dòng đã được công nhận như TH3-3, TH3-4, VL20, VL24… được đưa vào cơ cấu giống của nhiều tỉnh, nông dân ưa chuộng vì chất lượng gạo khá lại ngắn ngày. Nổi bật giống TH3-3 đã sang nhượng bản quyền với giá kỷ lục 10 tỷ đồng, tạo tiếng vang lớn, là động lực để các nhà khoa học tiếp tục nghiên cứu chọn tạo các tổ hợp lúa lai mới. Các tổ hợp lúa lai 2 dòng của Việt Nam đa phần đáp ứng được các mục tiêu: dễ sản xuất hạt lai F1 với năng suất trung bình 2,5 – 3 tấn/ha, chi phí thấp hơn hẳn so với sản xuất hạt lai F1 lúa lai ba dòng. Lúa lai thương phẩm có khả năng chống chịu sâu, bệnh và điều kiện bất thuận khá, năng suất và chất lượng khá cao, đặc biệt hầu hết đều là giống ngắn ngày.

Một số kết quả khảo nghiệm cho thấy giống Việt Lai 50 là giống ngắn ngày, tiềm năng năng suất cao, thích hợp cho việc chuyển đổi cơ cấu cây trồng, tăng vụ; có thể gieo ở xuân muộn, xuân cực muộn (chân trồng cây vụ đông muộn đến cuối tháng 2 dương lịch) đặc biệt là vụ mùa sớm để trồng cây vụ đông ưa ấm có giá trị kinh tế cao.

Việt Lai là một thương hiệu lúa lai hai dòng của Viện Nghiên cứu Lúa - Đại học Nông nghiệp Hà Nội. Việt Lai 20 do PGS - TS Nguyễn Văn Hoan - Giám đốc Viện Nghiên cứu Lúa chọn tạo, là giống lúa lai hai dòng được Bộ Nông nghiệp & PTNT đưa vào danh sách giống lúa được phép sản xuất kinh doanh, cũng là giống lúa lai đầu tiên sang nhượng bản quyền sản xuất. Nối tiếp thành quả đó, Viện tiếp tục chọn tạo thành công giống Việt Lai 24, đây là giống lúa lai có khả năng chống bạc lá rất tốt, ngắn ngày (thời gian sinh trưởng trong vụ mùa 92 - 97 ngày) được đặc cách công nhận giống để đưa vào phục vụ sản xuất trong vụ xuân muộn và mùa sớm, nhất là chân đất trồng cây vụ đông sớm. Nông dân đánh giá cao hai giống trên bởi nhiều ưu điểm: ngắn ngày, chống bạc lá, năng suất, chất lượng khá, tuy nhiên cả hai giống đều thuộc loại hình bông không to, số hạt trên bông không nhiều, tiềm năng năng suất hạn chế.

Khắc phục nhược điểm, PGS - TS Nguyễn Văn Hoan cùng cộng sự đã nghiên cứu thành công giống lúa lai hai dòng thế hệ mới: Việt lai 50 (VL50). Theo báo cáo tổng kết của Viện Nghiên cứu Lúa - ĐH Nông nghiệp HN, kết quả khảo nghiệm giống VL50 năng suất bình quân 70 tạ/ha, cao nhất là ở tỉnh trung du miền núi như Phú Thọ, Bắc Giang, năng suất đạt 75 – 80 tạ/ha, thời gian sinh trưởng trong vụ xuân phía bắc chỉ 115 – 120 ngày, đẻ nhánh trung bình, thuộc loại hình bông to, nhiều hạt, trung bình 250 – 300hạt/bông.

Theo PGS - TS Nguyễn Văn Hoan, VL50 là giống lúa có kiểu xếp hạt đặc biệt, hạt nọ xếp chồng hạt kia nên bông tuy không dài hơn nhiều giống lúa lai khác nhưng số hạt trên bông lại có thể cao gấp 1,5 lần chính vì vậy tuy thời gian sinh trưởng ngắn nhưng tiềm năng năng suất của giống VL50 rất cao. Trong thời gian tới ngoài việc nâng cao độ thuần của giống Viện sẽ bố trí thí nghiệm nhằm hoàn thiện quy trình thâm canh giống VL50 ở từng vùng sinh thái như áp dụng phương pháp cấy hàng rộng hàng hẹp, cấy mạ non, cấy mật độ 40 khóm/m2, 2 – 3 dảnh cơ bản/khóm (do VL 50 khả năng đẻ nhánh trung bình) đưa số bông/m2 đạt khoảng 300 bông thì mới khai thác tối đa tiềm năng năng suất giống.

Nguồn: http://nongnghiep.vn/nongnghiepvn/vi-VN/61/158/45/67/67/38525/Default.aspx

NHÂN DUY TRÌ THÀNH CÔNG HẠT GIỐNG DÒNG MẸ NHỊ 32A

ThS. Dương Thành Tài, Phó TGĐ Công ty CP Giống Cây Trồng Miền Nam (SSC)

LUAGAO - Dòng bất dục đực Nhị 32A là dòng mẹ lúa lai có nhiều đặc điểm tốt, được sử dụng để lai tạo nhiều giống lúa lai ở Trung Quốc và ở nước ta.

Dòng Nhị 32A có tính thích nghi rộng, chống chịu được các điều kiện bất thuận cao, dễ sản xuất hạt lai F1, khả năng phối hợp tốt và cho ưu thế lai cao. Các giống lúa lai có Nhị 32A làm mẹ chiếm khoảng 20% diện tích trồng lúa lai của Trung Quốc và 60% diện tích trồng lúa lai của Việt Nam. Hàng năm chúng ta phải nhập khẩu của Trung Quốc từ 6.000-8.000 tấn hạt giống lúa lai hệ Nhị ưu, phần lớn là giống Nhị ưu 838. Do đó nhân giống được dòng mẹ Nhị 32A, duy trì được tính bất dục ổn định của dòng này có ý nghĩa quan trọng đối với chủ trương tự túc 70% nhu cầu hạt giống lúa lai của Bộ NN-PTNT

Tự túc hạt giống lúa lai hệ Nhị ưu là một bài toán khó. Chính phủ Trung Quốc không cho phép xuất khẩu các dòng bố mẹ. Các công ty trong nước muốn sản xuất hạt giống lúa lai Nhị ưu 838 phải nhập khẩu bất hợp pháp dòng mẹ Nhị 32A, giá rất đắt, không chủ động cả khối lượng và chất lượng.

Nhưng nhân duy trì hạt giống dòng Nhị 32A lại là một việc khó khăn hơn. Ở Trung Quốc vùng Tứ Xuyên là vùng thích hợp nhất để nhân dòng Nhị 32A có chất lượng tốt. Xuôi về phía nam, ở Quảng Đông hay đảo Hải Nam dòng Nhị 32A dễ mất tính bất dục, tỉ lệ hữu dục có thể lên đến 40% nếu gặp ngày ngắn có 12 giờ chiếu sáng hay nhiệt độ trung bình ngày cao hơn 26oC (theo nghiên cứu của Sở Nghiên cứu Lúa thuộc Viện Khoa học Nông nghiệp Quảng Đông). Do đó nhiều cơ quan nghiên cứu trong nước ta đã nghiên cứu nhân duy trì dòng Nhị 32A nhưng chưa thật sự thành công.

Muốn duy trì dòng Nhị 32 A cần phải có đủ 2 điều kiện:

1) Có dòng Nhị 32B đẳng gene (hoàn toàn giống dòng Nhị 32A nhưng hữu dục) để lai với dòng Nhị 32A tạo ra đời con là dòng Nhị 32A bất dục trở lại nhưng với khối lượng nhân lên lớn hơn.

2) Dòng Nhị 32B phải duy trì được tính bất dục của dòng Nhị 32A trong điều kiện nóng của Việt Nam (nhiệt độ bình quân ngày 27oC).

Từ năm 2001 Cty Cổ phần Giống cây trồng Miền Nam (SSC) đã thu thập nhiều nguồn giống của dòng mẹ Nhị 32A như của Trung tâm nghiên cứu lúa lai Trung Quốc ở Hồ Nam, của Trường Đại học Nông nghiệp Tứ Xuyên và một số công ty giống của Trung Quốc để tìm dòng Nhị 32B thỏa mãn được hai điều kiện trên. Đến năm 2005 tổng cộng có trên 2.000 cặp lai (giữa các cá thể Nhị 32B phân lập được và dòng mẹ Nhị 32A) được gieo trồng lặp lại nhiều vụ để khảo sát và đánh giá độ ổn định tính bất dục đời sau ở hai vùng sinh thái đồng bằng sông Cửu Long và Tây Nguyên.

Sự nỗ lực và kiên trì của tập thể nghiên cứu lúa lai của SSC đã được đền bù. Dòng Nhị 32B có đặc điểm như mong muốn đã được tìm ra. Làm phép so sánh t-test trong các thí nghiệm so sánh với dòng mẹ Nhị 32A nhập từ Trung Quốc cho thấy dòng Nhị 32A nhân duy trì với dòng Nhị 32B của SSC hoàn toàn giống nhau về các đặc điểm hình thái nông học và ưu thế lai. Giống lúa lai Nhị ưu 838 sử dụng dòng mẹ Nhị 32A của SSC hoàn toàn giống giống lúa lai Nhị ưu 838 nhập từ Trung Quốc và cho năng suất tương đương.

Điều này đã được thực tế sản xuất khẳng định, vì từ năm 2005 đến nay SSC hoàn toàn tự túc được dòng mẹ Nhị 32A để sản xuất hạt giống lúa lai Nhị ưu 838, không phải nhập dòng mẹ từ Trung Quốc. Đến nay đã có hơn 20 tấn hạt giống Nhị 32A được SSC nhân giống để sản xuất ra 572 tấn hạt giống lúa lai Nhị ưu 838. Giống lúa lai Nhị ưu 838 SSC đã trở thành thương hiệu tin cậy của bà con nông dân ở nhiều tỉnh thành miền Bắc, Tây Nguyên và Duyên hải miền Trung. Từ năm 2007 SSC cũng đã cung ứng hạt giống dòng mẹ Nhị 32A cho Cty CP Giống cây trồng Quảng Nam và được phản hồi rất tốt, thậm chí nhiều bà con nông dân Quảng Nam còn đạt được năng suất lúa thịt cao hơn so với giống Nhị ưu 838 nhập khẩu từ Trung Quốc .

Việc nhân duy trì thành công hạt giống dòng mẹ Nhị 32A trong điều kiện ngày ngắn và nhiệt độ trung bình ngày 27oC là chìa khóa để mở rộng cánh cửa tự lực sản xuất hạt giống lúa lai trong nước.

Nguồn: http://nongnghiep.vn/nongnghiepvn/vi-VN/61/158/45/45/45/39536/Default.aspx

QUY TRÌNH BÓN PHÂN NÉN CHO LÚA CẤY

LUAGAO - Hỏi: Tôi đọc báo thấy nói ở Yên Bái triển khai dự án xây dựng mô hình bón phân viên nén dúi sâu trong thâm canh lúa trên diện rộng cho hiệu quả rất cao, năng suất lúa tăng mà lại tiết kiệm chi phí, công lao động. Xin quí báo cho biết về loại phân này và hướng dẫn cách sử dụng?
(Lò Văn Ban, xã Bình Xa, huyện Hàm Yên, tỉnh Tuyên Quang)
Trả lời: Được Tổ chức Codespa (Tây Ban Nha) tài trợ kinh phí, vụ xuân năm 2009 vừa qua Hội phụ nữ Yên Bái phối hợp với Sở NN-PTNT tỉnh Yên Bái và Trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội triển khai dự án “Sử dụng phân bón viên nén dúi sâu trong kỹ thuật thâm canh lúa” trên diện rộng (17 xã thuộc 5 huyện: Trấn Yên, Yên Bình, Văn Yên, Văn Chấn và thị xã Nghĩa Lộ) đưa lại hiệu quả kinh tế cao.


Đáp ứng yêu cầu của bạn, chúng tôi đã tìm gặp Thạc sĩ Chu Anh Tiệp, một trong những tác giả của loại phân viên nén mới này để biết thêm thông tin. Thạc sĩ Tiệp cho biết: Phân bón viên nén NK dùng cho cây lúa do Bộ môn Thủy nông-Canh tác (Khoa Đất-Môi trường-Trường ĐH Nông nghiệp Hà Nội) nghiên cứu, sản xuất đã được sử dụng rộng rãi ở nhiều địa phương đưa lại hiệu quả kinh tế cao.


Đây thực chất là một loại phân chậm tan mà nguyên tắc sản xuất là sử dụng các chất phụ gia có khả năng giữ phân lâu hơn, làm cho phân tan từ từ, vừa đủ cho cây hút, vừa có đủ dinh dưỡng mà không bị ngộ độc, không bị mất mát do bị rửa trôi hay bốc hơi. Khi bón phân thúc cho lúa, thay vì bón vãi như trước đây, viên phân được dúi sâu trong bùn. Theo cách bón này, dinh dưỡng trong viên phân tan từ từ theo nhu cầu của cây lúa theo từng thời kỳ nên vừa tiết kiệm được cả công, vật tư mà hiệu quả lại cao hơn nhiều.


Kết quả thực tế ở Yên Bái trong vụ xuân vừa qua và nhiều địa phương khác khi sử dụng phân viên nén dúi sâu cho thấy: tiết kiệm được 30-35% lượng đạm so với cách bón vãi thông thường. Chỉ bón dúi 1 lần cho cả vụ, đơn giản, dễ làm và chủ động trong sản xuất (không phù thuộc vào thời tiết); làm giảm và hạn chế cỏ dại sâu bệnh, tiết kiệm được công lao động, chi phí, giảm tác hại đối với môi trường; giúp tăng năng suất lúa từ 10-20% so với cách bón phân vãi.


Qui trình kỹ thuật sử dụng phân viên nén NK dúi sâu bón cho lúa cấy:


- Chuẩn bị ruộng cấy: Yêu cầu cày bừa làm đất như với ruộng cấy lúa bình thường, bừa càng phẳng mặt ruộng thì càng dễ quản lý mực nước, cấy và dúi phân nhanh. Bón lót từ 200-300kg phân chuồng hoai và 10-15kg phân lân Văn Điển hoặc supe Lâm Thao cho 1 sào Bắc bộ (360m2) trước khi cấy như bón phân thông thường. Luôn giữ mực nước trong ruộng từ 3-5cm từ lúc cấy cho đến khi bón phân.
- Cấy lúa: Cấy thẳng hàng, đúng mật độ, khoảng cách. Nên cấy lúa theo từng luống cách nhau 25cm để thuận tiện cho việc áp dụng kỹ thuật bón phân viên nén dúi sâu sau này. Mỗi luống gồm có 8 hàng lúa theo khoảng cách: 20cm x 20cm (hàng cách hàng 20cm, khóm cách khóm 20cm), nếu đất tốt có thể cấy thưa hơn với khoảng cách 21-22cm x 21-22cm. Cấy đúng tuổi mạ (có 3-4 lá thật); cấy nông tay, mỗi khóm từ 1-2 dảnh. Nếu ruộng tốt, giống đẻ nhánh khỏe thì chỉ nên cấy 1dảnh/khóm.

- Kỹ thuật bón (dúi) phân viên nén NK:


+ Bón tốt nhất là ngay sau khi cấy, thời gian bón càng ngắn càng tốt (vụ xuân từ 1-5 ngày, vụ mùa từ 1-3 ngày).
+ Cách bón: Bỏ sẵn phân viên vào 1 cái túi đeo bên mình, mỗi người đi 1 hàng bón dúi cho 2 hàng bên cạnh (cách 1 hàng bón dúi cho 1 hàng, cứ 4 khóm lúa bón dúi 1 viên phân nén NK). Một tay luôn để khô để lấy phân đưa qua tay kia dúi sâu 6-8cm so với mặt ruộng (ngập hết 2 ngón tay cầm viên phân là vừa). Sau khi dúi xong, dùng tay gạt nhẹ một lớp bùn mỏng phủ kín viên phân.
+ Lượng bón: Tùy theo mật độ cấy mà có thể bón từ 9,0-9,5kg/sào Bắc bộ.
Một số điểm lưu ý khi bón phân viên nén NK để đạt hiệu quả cao nhất:
- Cấy lúa thẳng hàng để dúi phân nhanh, dễ dúi, dúi đúng vị trí và đảm bảo mật độ sẽ giúp cây lúa sinh trưởng nhanh, đồng đều, đẻ nhánh khỏe và tập trung, cho năng suất cao.
- Trong vòng 20-25 ngày sau khi dúi phân không được bước vào vị trí đã dúi phân để không làm xê dịch viên phân. Các công việc chăm sóc (làm cỏ, phun thuốc…) được thực hiện ở các hàng công tác không có dúi phân giữa 2 hàng có dúi phân.
- Không dúi viên phân quá nông (<5cm)>10cm); phủ kín để tránh phân bị bốc hơi; không bón phân viên nén cho các loại đất có thành phần cơ giới nhẹ như đất cát hoặc đất cát pha.
Khi bón phân viên nén dúi sâu sẽ thấy hiện tượng cây lúa sinh trưởng chậm hơn so với phương pháp bón phân gieo vãi từ 5-8 ngày. Để khắc phục tình trạng này bà con nên bón vãi trên mặt ruộng trước khi cấy 0,5kg urê/sào Bắc bộ sẽ giúp cây lúa sinh trưởng bình thường. Có thể kết hợp rắc hoặc phun thuốc trừ cỏ cho ruộng lúa ngay sau khi bón phân viên nén NK dúi sâu.

Công Hào
Nguồn: http://nongnghiep.vn/nongnghiepvn/vi-VN/61/158/45/45/45/37538/Default.aspx

KỸ THUẬT HẠN CHẾ LÚA LÉP

LUAGAO - Có rất nhiều nguyên nhân dẫn đến lúa lép trong vụ lúa hè thu, nhưng phải nói rằng sự đổ ngã là nguyên nhân chính và gây lép nhiều nhất. Tỷ lệ lép nhiều hay ít tùy thuộc vào ruộng lúa bị đổ ngã vào các thời kỳ sinh trưởng khác nhau của cây lúa. Nếu ruộng lúa bị đổ ngã ở thời kỳ trước và ngay sau khi trổ bông thì tỷ lệ lép rất cao và năng suất lúa sẽ giảm rõ rệt. Mặt khác, ruộng lúa bị đổ ngã, việc thuê mướn công cắt cũng khó khăn và giá cao hơn so với ruộng lúa đứng, dẫn đến làm tăng giá thành sản xuất lúa.

Những nguyên nhân dẫn đến lúa bị lép là:

- Do người sản xuất áp dụng các yếu tố kỹ thuật không phù hợp như gieo sạ với mật độ quá dày, bón phân mất cân đối giữa đạm lân và kali, chủ yếu là bón quá nhiều phân đạm ở giai đoạn cuối làm cho cây lúa phát triển lá quá mạnh, thân cây lúa bị yếu sẽ dẫn đến đổ ngã, bông lúa trổ ra bị ngâm dưới nước sẽ bị hư hoặc đè lên nhau sẽ không thụ phấn được làm cho hạt lúa bị lép.

- Do tác động của các yếu tố ngoại cảnh như mưa to, gió lớn. Lúa trổ ra mà gặp cơn bão thì tỷ lệ lép sẽ rất cao, thời tiết quá nóng, quá lạnh, trời âm u không có nắng cũng làm cho khả năng thụ phấn kém, dẫn đến hạt lúa bị lép.

- Do giống: Có những giống lúa thường hay có tỷ lệ hạt lép cao trong vụ hè thu như IR64, Jasmin85. Những giống thường cho tỷ lệ hạt lép thấp trong vụ hè thu như OM4498, OM2517… Những giống lúa cao cây sẽ hay bị đổ ngã trong vụ hè thu làm tăng tỷ lệ hạt lép.

- Do sâu bệnh: Vào thời kỳ lúa trổ thường hay bị các loại sâu bệnh như sâu cuốn lá, bệnh đạo ôn trên lá, đạo ôn cổ bông. Ruộng lúa bị hại nặng bởi các loài dịch hại này sẽ làm lúa lép rất nhiều.

Tìm hiểu và nắm được nguyên nhân gây ra lúa lép ở cây lúa, chúng ta sẽ đưa ra được những giải pháp hữu hiệu nhằm giảm tỷ lệ hạt lép của lúa một cách chủ động, trên cơ sở đó sẽ giữ vững được năng suất. Các biện pháp cụ thể để hạn chế đổ ngã là:

+ Sử dụng các giống lúa cứng cây: Trong vụ hè thu đa số các giống lúa cao sản ngắn ngày đều có rạ cứng như OM4498, CS2000, OM2517… Những giống lúa thơm, lúa dài ngày, lúa mùa thường cao cây và yếu rạ.

+ Bố trí thời vụ thích hợp: Vụ hè thu ở ĐBSCL, vào các tháng 10, 11 thường hay có mưa to kéo dài và lũ lụt vì vậy cần bố trí mùa vụ hợp lý để thu hoạch trước khi lũ về.

+ Làm đất thật kỹ khi xuống giống nhằm cho bộ rễ phát triển mạnh sẽ giúp cây lúa cứng cây hơn.

+ Áp dụng các biện pháp sạ thưa như sạ theo hàng, lượng giống sạ từ 100-120 kg lúa/ha để đảm bảo độ thông thoáng trong ruộng lúa sẽ giảm được sâu bệnh.

+ Cần bón phân cân đối giữa các loại phân là đạm, lân và kali. Bón đạm nên bón theo bảng so màu lá vừa đáp ứng được nhu cầu sinh trưởng của cây lúa, vừa không gây lãng phí phân đạm. Chú ý bón phân kali sẽ làm cây lúa cứng cáp hơn.

+ Thăm đồng thường xuyên, khi phát hiện có sâu bệnh tới ngưỡng gây hại thì cần xử lý ngay. Trước và sau khi lúa trổ nên phun thuốc Till Supfer sẽ phòng trừ được một số loại bệnh và làm tăng độ phì hạt lúa, màu sắc lúa sáng bóng.

+ Điều tiết nước trong ruộng lúa, tốt nhất nên tháo cạn nước ruộng trước khi cây lúa vào giai đoạn làm đòng, vừa tạo điều kiện thông thoáng ruộng lúa, vừa làm cho bộ rễ phát triển ăn sâu vào đất. Thời gian rút nước khoảng 7 ngày, sau đó cho nước vào và khống chế mức nước ở mức 5-10 cm cho đến khi lúa chín. Rút hết nước trước khi thu hoạch lúa 10 ngày.

Đỗ Quảng

Nguồn: http://nongnghiep.vn/nongnghiepvn/vi-VN/61/158/45/45/45/39474/Default.aspx

14/09/2009

Những tranh luận chưa dứt về thực phẩm biến đổi gen

TINKHOAHOC. "McWilliams nghi vấn rằng cái gì xảy ra nếu cái gọi là “organic farming” được chấp nhận đại trà, nó chỉ có thể nuôi sống được 4 tỷ người. Trong khi dân số thế giới hiện nay là 6,8 tỷ người. Thế thì giải pháp hữu cơ tác động như thế nào. Giống cà chua mùa đông trồng ở Tây Ban Nha nhập vào Anh Quốc phát triển nhiều hơn giống cà chua địa phương; bởi vì cà chua Anh đòi hỏi phải có nhà sưởi ấm. Sản xuất và chế biến đã ngốn hơn một nửa năng lượng hoá thạch để có thực phẩm trên bàn ăn của chúng ta hàng ngày (kể cả phí vận chuyển). Chúng ta phải phát triển nguồn năng lượng tái tạo để làm ra phân bón, tồn trữ thực phẩm và nấu ăn. Chúng ta phải giảm nhiều diện tích nông nghiệp để làm ra sản lượng lương thực cao hơn. " Đó là trích đoạn những tranh luận chưa dứt về thực phẩm biến đổi gen trong bản tin khoa học Bùi Chí Bửu tuần này


Gà thả vườn, cà chua không cứu được trái đất: hãy tiếp cận với “Frankenfood”
Phóng viên Elizabeth Lopatto của tạp chí Bloomberg, đã viết vào ngày 4-9-2009 như sau: Trước khi Alice Waters và Michael Pollan đặt ra nghi vấn có tính chất đạo đức về lương thực thực phẩm GM cứu giúp loài người thoát khỏi đói, James E. McWilliams đã xem xét lại vấn đề này có ảnh hưởng vô cùng to lớn này là: "chính lương thực thực phẩm nơi mà Locavores cho rằng sai lầm và làm thế nào chúng ta có thể phải ăn như một trách nhiệm trong cuộc sống". Tựa đề này có cái gì lừa bịp một chút. McWilliams đã không xem xét tính chính thống mới trong cách lựa chọn lương thực thực phẩm thích ứng với môi trường của loài người, cho nên ông đã nhấn mạnh đến nông nghiệp hữu cơ với thuật ngữ “organic farming”, bổ sung sự kiện cải biên di truyền và tập tính của con người về chế độ ăn uống khác nhau. McWilliams nghi vấn rằng cái gì xảy ra nếu cái gọi là “organic farming” được chấp nhận đại trà, nó chỉ có thể nuôi sống được 4 tỷ người. Trong khi dân số thế giới hiện nay là 6,8 tỷ người. Thế thì giải pháp hữu cơ tác động như thế nào. Giống cà chua mùa đông trồng ở Tây Ban Nha nhập vào Anh Quốc phát triển nhiều hơn giống cà chua địa phương; bởi vì cà chua Anh đòi hỏi phải có nhà sưởi ấm. Sản xuất và chế biến đã ngốn hơn một nửa năng lượng hoá thạch để có thực phẩm trên bàn ăn của chúng ta hàng ngày (kể cả phí vận chuyển). Chúng ta phải phát triển nguồn năng lượng tái tạo để làm ra phân bón, tồn trữ thực phẩm và nấu ăn. Chúng ta phải giảm nhiều diện tích nông nghiệp để làm ra sản lượng lương thực cao hơn. McWilliams đã viết: "Người ta ham muốn nhiều hơn để ra lệnh cho nhau như đọc thần chú: phải ăn thực phẩm địa phương, phải tự trồng rau sạch trên mái nhà, phải cho gia súc ăn cỏ tự nhiên trên đồng hoang dã, phải nuôi gà thả vườn". Các nhà môi trường đã cam kết với nhau đào hố ngăn cách không cho các tên lái buôn đáng sợ mang "Frankenfood" (tên gọi bình dân của thực phẩm GM) và phải yêu “thực phẩm biến đổi gen”. Thực phẩm biến đổi gen cho phép trồng trên diện tích nông nghiệp ngày càng ít hơn, ít rừng mưa nhiệt đới hơn vì nó đã bị tàn phá nhiều rồi, ít sử dụng thuốc sâu hơn. Chúng ta phải thay đổi tập tính sống, để ăn có đạo đức hơn và bền vững hơn, hãy bắt đầu bằng cách không vứt bỏ thực phẩm mà chúng ta đã bỏ tiền ra để mua. Người ta phải mất 2.200 lít nước để làm ra hamburger. Đã đến lúc người ta nói không với cách làm như vậy để bảo tồn nguồn tài nguyên nước sẽ vô cùng hiếm hoi trong tương lai. Xem chi tiết http://www.agbioworld.org/

Bông vải ăn được
Ngày 4-9-2009, trên Bryan Walsh Time, đã đăng bản tin về bông vải ăn được Sept 4, 2009.
Bông vải được trồng lấy sợi làm quần áo cho con người từ hơn 7.000 năm. Hiện nay nó được 20 triệu nông dân của 80 nước đang trồng để lấy sợi. Bông trắng được dùng lấy sợi chiếm 40% tổng số sợi làm quần áo. Chưa bao giờ chúng ta nghĩ rằng nó có thể làm lương thực thực phẩm. Hạt bông là nguồn rất giàu protein—các giống bông mới sản sinh đủ hạt đáp ứng được nhu cầu hàng ngày của chúng ta, khoảng nửa tỷ người mỗi năm. Nhưng hạt chỉ đáp ứng yêu cầu như vậy sau khi chúng ta loại sạch gossypol, độc chất giúp cây bông chống lại côn trùng và vi sinh vật phá hại nó. Hạt bông có thể nuôi con người, heo, gà - theo lời của Kater Hake, Phó chủ tịch Hội đồng quản trị tập đoàn công nghiệp. Xem chi tiết http://www.time.com

Khoa bệnh học, hoạt động học và “mandacity” [chức năng học]
Henry I. Miller, M.D., đã viết trên bản tin khoa học Genetic Engineering and Biotechnology News, ngày 1-9-2009 (Vol. 29, No. 15) như sau: Sự xuyên tạc khoa học đã làm cho các chính sách và luật lệ không hoàn chỉnh. Người tiêu dùng đang được thổi phồng với cái mà nhà hoá học Irving Langmuir – người đã đoạt giải Nobel gắn cho cái tên "pathological science" - "khoa học của những sự vật không phải là chính nó". Nó là đặc sản của công chúng với danh hiệu “self-styled”, hoạt động thường xuyên của nó luôn xảy ra, không phải chỉ để bảo vệ sức khoẻ công chúng, hoặc môi trường; mà còn phản kháng lại quyết liệt về khía cạnh khoa học & công nghệ. Activists – những người không chấp nhận bất cứ loại hình R&D nào hoặc sản phẩm của thị trường nào; họ thường bêu xấu các loại hình này thông qua lời kết tội gắn kết với những lợi ích chia sẻ được. Trái lại, nghiên cứu được tài trợ bởi “activist” thường có tiêu chuẩn thấp hơn hoặc không ra cái gì cả. Thông tin sai thường phát triển nhanh do tính chất tự nhiên của nó. Hai thập kỷ trước, Hội đồng Bảo vệ tài nguyên thiên nhiên http://www.nrdc.org/ khuyến khích một hình thức doạ dẫm khi sử dụng hoá chất nông nghiệp như sử dụng Alar làm chín quả táo sẽ gây ung thư cho trẻ em. Điều này hoàn toàn sai nhưng trước đó, nó đã làm khốn khổ các nhà trồng táo. “Pathological science” không những có thể gây nhầm lẫn cho công chúng mà còn gây nhầm lẫn cho những nhà làm chính sách, xem: http://www.stanford.edu/ (Stanford University).

THÔNG BÁO
Sách mới: Climate Change--An In-Depth Review with Practices from Actual Experience
Phần II

Sự thay đổi khí hậu được hiểu theo ý nghĩa chu trình carbon trong đất; những thực hành giúp chúng ta quản lý được carbon, làm thế nào cải thiện tình trạng hiện nay. Trình bày bởi Jerry Hatfield, Charles Rice, và Jeff Vaughan. Xem chi tiết http://www.magnetmail.net/actions/email_web_version.cfm?recipient_id=70016020&message_id=808691&user_id=Soc_Agrnmythis

Sách mới: Cây trồng biotech ở Châu Phi
Trung Tâm Châu Phi của ISAAA (International Service for the Acquisition of Agri-biotech Applications) nghiên cứu tình trạng của Nairobi, Kenya, đã viết báo cáo về “cây trồng biotech tại Châu Phi – Biên giới cuối cùng”. Quyển sách nhỏ này nêu rõ điều kiện phát triển căn bản về công nghệ sinh học nông nghiệp cho Châu Phi trong tương lai. Sách mô tả những hoạt động công nghệ sinh học tại ba nước Nam Phi, Burkina Faso và Ai Cập; nơi có hoạt động thương mại hoá giống cây trồng biotech khá ấn tượng cả về lĩnh vực xã hội và lĩnh vực môi trường. Download sách này trên http://www.isaaa.org/Resources/publications/downloads/Biotech_Crops_in_Africa-The_Final_Frontier.pdf

Mời bạn cùng lên đường!

Mời bạn cùng lên đường!