Lưu trữ Blog

2/4/26

Cà phê - hành trình từ tu viện đến thức uống toàn cầu

Cà phê - hành trình từ tu viện đến thức uống toàn cầu

Hơn 5 thế kỷ trước, khi cà phê vẫn là một loại cây trồng bản địa ở vùng Đông Phi, đặc biệt là Ethiopia và Yemen, các tu sĩ Ả Rập theo đạo Sufi (một nhánh của Hồi Giáo) đã sử dụng loại thức uống này với mục đích: giúp giữ cho tinh thần tỉnh táo. Khi ấy, họ uống cà phê để duy trì sự tập trung trong các buổi cầu nguyện xuyên đêm.

Trong lịch sử kéo dài hàng thế kỷ, cà phê không chỉ đơn thuần là một thức uống, mà còn là một công cụ để xây dựng đế chế, thúc đẩy cách mạng công nghiệp và nhiều thứ khác. Và sau đây là 5 sự kiện nổi bật gắn liền với cà phê.

Cà phê bắt đầu xuất hiện ở châu Âu từ TK 17, khi thức uống này dần trở nên phổ biến, các đế quốc cũng nhanh chóng nhận ra rằng họ có thể tự sản xuất cà phê bằng cách tận dụng nguồn lao động từ nông dân và nô lệ tại các vùng thuộc địa xa xôi. Đến TK 18, nhiều quốc gia như Anh, Tây Ban Nha, Pháp, Bồ Đào Nha và Hà Lan đã biến cà phê thành một trong những cây trồng chủ lực trong thương mại, sánh ngang với đường, bông và thuốc lá.

Từ Indonesia đến Mỹ Latin và Caribe, những người lao động bị bắt làm nô lệ để đến các đồn điền trồng cà phê. Theo thống kê vào cuối những năm 1700, thuộc địa Saint Domingue của Pháp ở vùng Caribe từng sản xuất ⅔ sản lượng cà phê toàn cầu. Sau này, cách mạng Haiti bùng nổ vào năm 1791 đã làm các đồn điền bị thiêu rụi và khiến nhiều chủ sở hữu đồn điền thiệt mạng.

Về sau, người Bồ Đào Nha đã biến Brazil trở thành nhà sản xuất cà phê lớn nhất thế giới. Brazil là quốc gia đưa số lượng nô lệ đến Tân Thế giới nhiều nhất và cũng là nước cuối cùng ở Tây bán cầu bãi bỏ chế độ nô lệ vào năm 1888. Thậm chí vào những năm 1880, khi đối diện với các dự luật trao quyền tự do cho con cái của nô lệ, một nghị sĩ Brazil bên phe phản đối còn từng tuyên bố: “Brazil là cà phê và cà phê là người da đen.”

Các quán cà phê đầu tiên được cho là xuất hiện ở Đế chế Ottoman, nơi những người Hồi giáo, những người kiêng rượu, có được một nơi để tụ tập ngoài các quán rượu. Qua nhiều thế kỷ, quán cà phê trở thành “không gian công cộng”, nơi mà không chỉ giới tinh hoa mà mọi tầng lớp trong xã hội đều có thể đến gặp gỡ và trao đổi với nhau.

Từ TK 16, người Thổ Nhĩ Kỳ Ottoman đã mang cà phê đi truyền bá khắp nơi, cho những người Hồi giáo và sau đó là đến châu Âu. Đã từng có thời kỳ, quán cà phê là nơi để đàn ông có thể tụ tập và thảo luận về tin tức, tôn giáo, chính trị, mà không bị các nhà chức trách giám sát. Châu Âu từng tìm cách cấm các quán cà phê, nhưng lệnh cấm này nhanh chóng bị dỡ bỏ bởi sự phản đối dữ dội từ công chúng.

Tại châu Âu, quán cà phê trở thành “cái nôi” cho nhiều ý tưởng kinh tế và chính trị mới. Sàn giao dịch chứng khoán London, hãng bảo hiểm Lloyd’s of London và Công ty Đông Ấn đều bắt nguồn từ các quán cà phê. Ở London, chúng thậm chí còn được gọi là “đại học một xu” vì chỉ cần mua một tách cà phê là bạn đã có thể tham gia vào những cuộc tranh luận học thuật sôi nổi.

Ở châu Mỹ thuộc địa, quán Green Dragon Tavern và quán cà phê ở Boston nổi tiếng là nơi các nhà lãnh đạo của Sons of Liberty bí mật gặp gỡ để bàn kế hoạch cho sự kiện “tiệc trà Boston” năm 1773, khởi đầu cho cuộc chiến tranh giành độc lập Mỹ.

Vào TK 18 ở Anh, khi cách mạng công nghiệp bùng nổ, công nhân trong các nhà máy đã uống cà phê để có thể tỉnh táo làm việc suốt ngày đêm. Với công dụng giúp tỉnh, tăng tập trung, cà phê đã “biến đổi” nhịp sinh học vốn dựa vào ánh sáng mặt trời của con người thành giờ đồng hồ. Trong các ngành sản xuất cần vận hành liên tục, công nhân chỉ cần vài tách cà phê để duy trì năng lượng, tiếp tục duy trì sự tỉnh táo để làm việc. Nhờ đó mà hoạt động công nghiệp có thể diễn ra liên tục và phát triển.

ca-phe-30.jpg
Nhà nghiên cứu Mark Pendergrast từng viết trong quyển “Uncommon Grounds: The History of Coffee and How It Transformed Our World” rằng: “Thức thức uống của giới quý tộc, cà phê đã trở thành thứ ”ma t.uý gây cần thiết" của quần chúng, cà phê sáng đã thay thế súp và bia trong buổi sáng của mọi người."

Cà phê hoà tan là một loại đồ uống từ hạt cà phê đã ủ, cho phép mọi người có thể pha chế 1 cách nhanh chóng bằng cách thêm nước nóng và khuấy đều. Ưu điểm của cà phê hoà tan là pha chế rất nhanh, khối lượng và trọng lượng vận chuyển cũng thấp hơn so với cà phê hạt hoặc cà phê xay. Nếu được bảo quản đúng cách, cà phê hoà tan có thời hạn sử dụng lâu hơn so với cà phê rang thông thường. Đổi lại, cà phê hoà tan thường bị đánh giá kém về hương vị và chất lượng. Cà phê hoà tan cũng không đòi hỏi công việc dọn dẹp vì không tạo ra bã cà phê.

Khi nhà phát minh người Mỹ George CL Washington tìm được cách sản xuất cà phê hoà tan hàng loạt và cung cấp cho quân đội, nó bắt đầu trở thành thức uống phổ biến của các binh sĩ thời ấy. Vào thời Nội chiến Mỹ, cà phê đã hoàn toàn ăn sâu vào chế độ ăn uống của người Mỹ. Trên thực tế, nó đã được đưa vào khẩu phần ăn tiêu chuẩn của quân đội bắt đầu từ năm 1832.

Một binh sĩ Mỹ đã từng viết từ chiến trường vào năm 1918 rằng: “Dù có chuột, mưa, bùn hay tiếng gầm của đại bác và tiếng rít của đạn, tôi vẫn cảm thấy vui, chỉ mất một phút để đun nước trên chiếc bếp dầu nhỏ và pha một tách cà phê George Washington.” Khi đó lính Mỹ gọi cà phê hoà tan là “a cup of George”. Trong Thế chiến thứ II, những người lính lại đổi cách gọi sang “cuppa Joe”.

Từ năm 1941, quân đội đã đặt mua 140.000 bao hạt cà phê mỗi tháng, gấp 10 lần năm trước đó, để sản xuất cà phê hoà tan. Sau chiến tranh, các hãng như Nescafe và Maxwell House đã tận dụng cơ hội ra mắt sản phẩm cà phê hoà tan cho các cựu chiến binh, gia đình họ và người dân - những người vốn đã từng rất tò mò hương vị cà phê hoà tan mà những người lính hay dùng. Sau đó, chính sự tiện lợi của cà phê hoà tan đã khiến nó ngày càng trở nên phổ biến khắp toàn thế giới.

Starbucks có thể được xem là thương hiệu cà phê phổ biến nhất trên thế giới. Nhưng thương hiệu này có lẽ đã không thể tồn tại nếu như Howard Schultz, giám đốc marketing của công ty (lúc đó nó chỉ là nhà rang hạt cà phê lớn nhất bang Washington) không có chuyến đi đến Milan, nước Ý vào năm 1983.

Trong chuyến đi đó, Schultz đã bị cuốn hút bởi hàng trăm quán cà phê espresso, nơi các barista vừa pha chế những món thức uống như latte, cappucino vừa trò chuyện với khách hàng bên quầy pha chế. Trở về Mỹ, ông đã thuyết phục ban lãnh đạo thử mở quán espresso bar, bán những món thức uống theo kiểu Ý nhưng 3 người chủ khi đó là Jerry Baldwin,Zev Siegl,Gordon Bowker đều từ chối.

Năm 1985, Schultz rời Starbucks, lập ra công ty II Giornale để theo đuổi mong muốn của mình. Để tự mở quán cà phê đầu tiên có tên II Giornale, Howard Schultz đã phải tìm đủ mọi cách để huy động nguồn vốn. Đến năm 1987, khi Starbucks rao bán lại công ty, Schultz đã mua lại chuỗi 6 cửa hàng và xưởng rang. Ông ngay lập tức áp dụng mô hình cà phê kiểu Ý, cải tiến bộ máy hoạt động,… Khi đó, ông chỉ đặt ra mục tiêu mở 125 quán trong vòng 5 năm.

Tuy nhiên, kết quả vượt xa mong đợi khi đến năm 2020, Starbucks sở hữu gần 9000 cửa hàng tại Mỹ, 6.500 cửa hàng nhượng quyền và hơn 30.000 cửa hàng trên khắp thế giới. Một số người cho rằng chính Starbucks đã góp phần vào sự phát triển của văn hoá quán cà phê, thúc đẩy mọi người ra tụ họp và kết nối nhiều hơn.

 

Khi nào nhà khoa học trở thành doanh nhân?

 Khi nào nhà khoa học trở thành doanh nhân?

Thanh Nhàn - KHPT

Các cơ chế chính sách mới đang mở ra cơ hội cho những nhà khoa học có sáng chế, có công nghệ mới trở thành doanh nhân. Tuy vậy trên thực tế, điều này có dễ thực hiện ở Việt Nam?

Trước năm 2020, cái tên BioNTech vô cùng xa lạ, một công ty chuyên về công nghệ sinh học nằm đâu đó trong số hàng triệu triệu công ty cùng lĩnh vực trên toàn cầu. Nhưng chính công ty vô danh được thành lập vào năm 2008 này đã góp phần tạo ra vaccine dựa trên công nghệ mRNA của Pfizer. Kết quả đó của BioNTech dựa trên nghiên cứu của các nhà khoa học Uğur Şahin, Özlem Türeci, và Christoph Huber khi nhận được khoản đầu tư hạt giống là 180 triệu Euro từ công ty đầu tư mạo hiểm MIG Capital. Sau đó, vào năm 2013, nhà hóa sinh Katalin Karikó, chủ nhân giải thưởng Nobel Y học 2023, gia nhập BioNTech với tư cách là Phó chủ tịch cấp cao.

Nếu các khoản đầu tư sau này của Pfizer và Chính phủ Mỹ đã biến giấc mơ tạo ra loại vaccine chống đại dịch thành hiện thực trong khoảng thời gian ngắn chưa từng có trong lịch sử thì chính những kiến thức khoa học và bí quyết công nghệ tích lũy hàng thập kỷ là nền tảng cho liệu pháp miễn dịch tiên tiến này. Những know-how độc quyền đó đã đưa các nhà khoa học như Katalin Karikó hay Uğur Şahin, Özlem Türeci trở thành doanh nhân triệu phú sau khi đem lại những sản phẩm vô cùng có ý nghĩa với con người.

Đó là cách KH&CN tạo được tác động xã hội mà nhiều nhà quản lý khoa học Việt Nam vẫn hằng mơ ước. “Thực ra, khoa học chỉ có một cách duy nhất để tạo nguồn thu là thương mại hóa kết quả nghiên cứu mà thương mại hóa không có gì tốt hơn là cho phép họ được lập doanh nghiệp, để chuyển giao chất xám của mình hoặc dùng chất xám đó để mua cổ phần của doanh nghiệp dưới dạng cổ phần hoặc dùng luôn kết quả đó lập doanh nghiệp spinoff”, TS. Nguyễn Quân, nguyên Bộ trưởng Bộ KH&CN chia sẻ với báo Khoa học và phát triển vào năm 2023. “Thậm chí sau khi hoạt động tốt rồi, người ta có thể bán doanh nghiệp đó rồi quay đi nghiên cứu vấn đề khác, có thể lập một doanh nghiệp mới. Các giáo sư nước ngoài đều làm như thế cả. Họ lập doanh nghiệp, nếu đưa doanh nghiệp lên sàn chứng khoán thì có thể thu được gấp nhiều lần số tiền đầu tư, lấy tiền quay trở lại làm nghiên cứu khác”.

Vậy các nhà khoa học Việt Nam có cơ hội làm được điều tương tự? họ có khả năng trở thành doanh nhân ngay trên đất nước mình? Câu trả lời phức tạp hơn người ta tưởng.

Gợi ý gì từ chính sách mới?

Vào tháng 10 vừa qua, một loạt những nghị định mới ra đời với tốc độ nhanh chưa từng có – chỉ năm tháng sau khi Luật KH&CN, đổi mới sáng tạo được Quốc hội thông qua. Nhịp độ gấp rút, sôi nổi của việc xây dựng những văn bản quy phạm pháp luật hướng dẫn các hoạt động KH&CN, theo tinh thần chỉ đạo “làm ngày làm đêm”, “vừa chạy vừa xếp hàng”, “chỉ bàn làm, không bàn lùi”, khiến các nhà khoa học, vốn chỉ quen với quá trình xây dựng và thảo luận chính sách rất kỹ lưỡng, cũng cảm thấy ngỡ ngàng. Theo cách đó, các nghị định hướng dẫn và quy định chi tiết một số điều của Luật KH&CN, đổi mới sáng tạo như Nghị định 263/2025/NĐ-CP, Nghị định 267/2025/NĐ-CP, Nghị định 271/2025/NĐ-CP đã mở ra những cánh cửa vô cùng khác biệt, những hành lang hướng dẫn vừa đơn sơ vừa phức tạp, tỏa đi nhiều hướng để tìm cách liên thông thế giới này với xã hội.

Nghị định 271 đã góp phần vào việc tháo gỡ một nút thắt mà bấy lâu các nhà khoa học và quản lý khoa học vẫn lúng túng - xử lý tài sản hình thành sau đề tài KH&CN, dự án R&D có kinh phí từ ngân sách nhà nước. Tuy nhiên, việc cởi bỏ này đã đủ đáp ứng những gì thực tiễn cần, hay nói cách khác là “khuyến khích tinh thần doanh nghiệp của nhà khoa học và tinh thần khoa học của doanh nhân” không?

Nếu hai nghị định 263 và 267 bàn đến các nội dung đã được thảo luận khá nhiều ở Việt Nam, khi tập trung vào các vấn đề tài chính khoa học, quản lý các nhiệm vụ KH&CN, cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm, nhân lực, nhân tài và giải thưởng KH&CN..., thì Nghị định 271 đề cập tới góp vốn công nghệ, một khái niệm mới trong không gian trường đại học, viện nghiên cứu. Văn bản này cho phép trường, viện hoặc nhà khoa học có thể công khai góp vốn bằng công nghệ vào một doanh nghiệp hoặc thậm chí tự lập một doanh nghiệp bằng chính công nghệ mình làm ra, ngay cả khi công nghệ ấy là sản phẩm hình thành từ đề tài KH&CN có kinh phí từ ngân sách nhà nước. Sau khi đã xác lập quyền sở hữu cho nhà khoa học trong Luật Sở hữu trí tuệ và dự án Luật Chuyển giao công nghệ, cùng với Nghị định 271, nhà khoa học có thể trở thành doanh nhân, công khai và trực tiếp đưa các sản phẩm nghiên cứu vào ứng dụng thực tiễn.

Đây chính khái niệm mà những người làm khoa học và cả những người làm quản lý khoa học từng đề cập tới nhiều lần nhưng giờ mới được pháp luật chính thức công nhận. Cách đây đúng 10 năm, tại tọa đàm “Những doanh nhân tiên phong công nghệ sáng tạo trên trang báo Tia Sáng” do Trung tâm Nghiên cứu kinh doanh và Hỗ trợ doanh nghiệp (BSA) tổ chức tại Triển lãm Giảng Võ (Hà Nội), TS. Nguyễn Quân đã chia sẻ “Để tồn tại, doanh nghiệp cần có hai yếu tố, tinh thần doanh nhân và tinh thần công nghệ. Chính sự đóng góp của các doanh nghiệp đã góp phần mở rộng ứng dụng KH&CN vào thực tiễn. Vì vậy, để KH&CN Việt Nam giữ được vị trí thứ ba trong khối ASEAN, không chỉ phụ thuộc vào cộng đồng khoa học mà còn vào cả cộng đồng doanh nghiệp, với những doanh nhân có tinh thần công nghệ. Bộ KH&CN sẽ cố gắng tạo ra cơ chế thông thoáng nhất để doanh nghiệp phát huy được tinh thần này.”

Mất một thập kỷ, sau khi được Nghị quyết 57 và Nghị quyết 68 của Bộ Chính trị mở đường, ý tưởng khuyến khích tinh thần doanh nghiệp của nhà khoa học và tinh thần công nghệ ở doanh nhân mới có cơ hội trở thành hiện thực. Trong nhiều cuộc hội thảo lớn nhỏ, nhiều nhà khoa học đã từng cho rằng cần phải có những đổi mới chính sách để thúc đẩy chuyển giao công nghệ và chuyển giao tri thức tới xã hội. TS Trịnh Thành Trung (Viện Vi sinh vật và Công nghệ sinh học, ĐHQGHN) đã không ngần ngại đề cập đến điều này trong cuộc họp về xử lý tài sản hình thành sau nhiệm vụ KH&CN được thực hiện bằng ngân sách nhà nước ở Bộ KH&CN vào tháng 12/2023 “Trong thời gian qua, chúng ta nghe thấy rất nhiều cụm từ ‘kinh tế tri thức’. Vậy tri thức từ đâu? Dĩ nhiên phải từ KH&CN. Nhà khoa học tập trung vào nghiên cứu và tạo ra bài báo khoa học, quy trình công nghệ, cả hai đều là tri thức và chúng ta áp dụng tri thức đấy vào trong sản xuất kinh doanh và tạo ra tiền thì lúc đó mới gọi là kinh tế tri thức”.

Rõ ràng, điều mà những nhà khoa học như TS. Trịnh Thành Trung mong muốn là có những cơ chế chính sách phù hợp để biến tri thức, know-how ở phòng thí nghiệm thành sản phẩm thực, đem lại doanh thu trong thế giới thực.

Những sản phẩm tri thức và tài sản trí tuệ này rút cục đã được nhắc đến một cách trực tiếp trong Nghị định 271. Cụ thể hơn, văn bản này đã xác nhận vốn trí tuệ (intellectual capital) nói chung và vốn công nghệ (technical capital) nói riêng từ khu vực công là các trường viện có thể chuyển giao được và được coi là một dạng vốn đặc biệt để tạo dựng một doanh nghiệp mới. Cùng với việc sửa đổi Luật Chuyển giao công nghệ để công nhận quyền sở hữu công nghệ - sản phẩm thu được từ quá trình thực hiện các nhiệm vụ KH&CN với kinh phí từ ngân sách nhà nước – thuộc về trường viện cũng như nhà nghiên cứu, Nghị định 271 được kỳ vọng sẽ đem lại một bước thay đổi ngoạn mục, khơi thông dòng chảy công nghệ từ trường viện ra ngoài xã hội.

Việc công nhận này đã đặt cơ sở để chuyển giao, góp vốn các kết quả nghiên cứu từ đề tài, dự án KH&CN được thực hiện bằng kinh phí từ ngân sách nhà nước, vốn được coi là tài sản công, một khi được xác định giá trị tài sản công khai, minh bạch. Do đó, Nghị định 271 dành hẳn một chương để quy định các loại tài sản góp vốn cũng như cách xác định giá trị tài sản góp vốn (dựa trên quy định pháp luật về thẩm định giá, sở hữu trí tuệ, luật KH&CN, đổi mới sáng tạo...). Điều này làm chúng ta không khỏi liên hệ với Luật Chuyển giao công nghệ - Luật này coi góp vốn bằng công nghệ là một hình thức chuyển giao công nghệ. “Góp vốn bằng công nghệ là một hình thức chuyển giao công nghệ hợp pháp. Trường hợp dự án đầu tư có sử dụng vốn nhà nước thì công nghệ góp vốn phải được thẩm định giá theo quy định của pháp luật. Điều này nhằm bảo đảm tài sản công nghệ được định giá chính xác, tránh thất thoát vốn nhà nước”, luật sư Nguyễn Văn Phúc, Công ty Luật HM&P, nêu trong tạp chí Luật sư Việt Nam.

Đến thời điểm này, vẫn còn chưa rõ cuộc sửa đổi Luật Chuyển giao công nghệ đang diễn ra có đem lại nhiều quy định thuận lợi để thúc đẩy hoạt động chuyển giao công nghệ cũng như góp vốn tri thức, vốn công nghệ từ trường viện không song rõ ràng, Nghị định 271 đã góp phần vào việc tháo gỡ một nút thắt mà bấy lâu các nhà khoa học và quản lý khoa học vẫn lúng túng – xử lý tài sản hình thành sau đề tài KH&CN, dự án R&D có kinh phí từ ngân sách nhà nước.

Tuy nhiên, việc cởi bỏ này đã đủ đáp ứng những gì thực tiễn cần, hay nói cách khác là “khuyến khích tinh thần doanh nghiệp của nhà khoa học và tinh thần khoa học của doanh nhân” không? Quá trình chuyển giao công nghệ, tri thức theo cách này thực ra cần những điều kiện gì nữa?

Vẫn còn nhiều khoảng trống

Nhìn ở góc độ tích cực có thể thấy, những triển vọng tươi sáng đang được gợi mở từ các cơ chế, chính sách mới như Luật KH&CN, đổi mới sáng tạo cũng như các nghị định hướng dẫn thực thi luật, trong đó có Nghị định 271. Với sự thay đổi này, Việt Nam mới có điều kiện để hướng tới việc bước vào quỹ đạo thành công của nhiều cường quốc, khi khai thác được hiệu quả tài sản trí tuệ, công nghệ từ trường, viện. Thực tế cho thấy, tại Mỹ, trước khi ban hành Luật Bayh–Dole được thông qua, Mỹ đã tắc nghẽn mạch chuyển giao công nghệ, khiến cho chỉ chưa đầy 5% trong tổng số hơn 28.000 bằng sáng chế được cấp phép thương mại. Luật Bayh- Dole đã cho phép các trường đại học giữ quyền sở hữu các phát minh do các nhà nghiên cứu của trường có được từ các dự án sử dụng nguồn tài trợ từ chính phủ, trong khi trước đây buộc các nhà khoa học (bất kể họ làm việc ở đâu) phải chuyển giao quyền sở hữu kết quả nghiên cứu cho chính phủ

Chỉ có nhà khoa học làm ra công nghệ mới có đủ năng lực làm chủ được cái công nghệ ấy hoặc giải quyết được những vấn đề nó vấp phải, còn để cho người khác dùng sản phẩm công nghệ đó kinh doanh sản xuất thì có thể thất bại. Đó là lý do mà các nhà khoa học nước ngoài muốn tự mình làm doanh nghiệp.

TS. Nguyễn Quân

Liệu những cơ chế chính sách mới, đặc biệt là những văn bản được soạn thảo một cách nhanh chóng, có thể làm được điều mà đạo Luật Bayh- Dole đã làm không? Xác lập ngay một câu trả lời, e rằng quá sớm nhưng dựa trên những vấn đề cốt lõi của chuyển giao công nghệ như định giá tài sản trí tuệ/công nghệ mới, góp vốn, thoái vốn, tổ chức hỗ trợ chuyển giao (TTO), bảo hộ tài sản trí tuệ... và đặt nó vào bối cảnh chung ở Việt Nam thì có thể thấy, còn có rất nhiều khoảng trống quy định đang tồn tại, có nguy cơ làm giảm hiệu quả của chính sách mới được thiết kế và thông qua.

Khoảng trống đầu tiên nằm ở chính bối cảnh Việt Nam. Nhìn rộng ra thì trước đây, quá trình góp vốn vốn bằng tài sản trí tuệ đã diễn ra từ lâu. “Việc góp vốn, liên doanh bằng tài sản trí tuệ (chủ yếu là góp vốn bằng thương hiệu) diễn ra khá sôi động, đi trước các quy định của pháp luật. Từ những năm 1990, các tập đoàn đa quốc gia đã tiếp cận thị trường Việt Nam thông qua việc liên doanh, liên kết, mua bán, sáp nhập với các doanh nghiệp trong nước”, nghiên cứu sinh Lê Minh Thái (Hutech) viết trên tạp chí Kinh tế tài chính. Tuy nhiên, các “doanh nghiệp Việt thường chỉ chú ý vào giá trị quyền sử dụng đất và các tài sản hữu hình mà chưa chú ý đến các tài sản vô hình như tài sản trí tuệ”. Hệ quả là “việc xác định giá trị, nhượng quyền sử dụng tài sản trí tuệ, góp vốn liên doanh, liên kết… bằng giá trị tài sản trí tuệ đối với các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế ở Việt Nam đến nay vẫn còn là một khoảng trống”.

Từ bối cảnh chung này mà việc áp dụng khái niệm góp vốn trí tuệ, hay vốn công nghệ, trong thực tế không hề dễ dàng, kể cả doanh nghiệp lẫn nhà khoa học. Luật sư Nguyễn Văn Phúc, từ kinh nghiệm từng thực hiện thành công nhiều thương vụ mua bán sáp nhập công ty quy mô lớn, đã chỉ ra bốn khó khăn của góp vốn công nghệ, một hoạt động chịu sự chi phối của ba luật (Luật Doanh nghiệp, Luật Sở hữu trí tuệ và Luật Chuyển giao công nghệ) trên tạp chí Luật sư Việt Nam, đó là: 1) khó khăn trong định giá công nghệ: Khác với tài sản hữu hình có thị trường rõ ràng, tài sản công nghệ thường khó xác định giá trị do không có giá thị trường sẵn có và giá trị phụ thuộc nhiều vào khả năng ứng dụng tương lai. “Việc định giá công nghệ, tài sản trí tuệ để góp vốn gặp nhiều thách thức: thiếu phương pháp chuẩn, kết quả dễ dao động giữa các hội đồng định giá, rủi ro định giá sai gây thiệt hại và tranh chấp về sau. Đây là rào cản lớn ảnh hưởng trực tiếp đến việc xác định tỷ lệ cổ phần của người góp vốn bằng công nghệ trong doanh nghiệp”; 2) Khung pháp lý còn nhiều lỗ hổng và chưa đồng bộ. “Việc thiếu các quy định chi tiết về điều kiện chuyển quyền, thời điểm ghi nhận vốn, xử lý khi quyền công nghệ hết hiệu lực đã gây khó khăn cho doanh nghiệp trong việc tuân thủ pháp luật và bảo vệ quyền lợi các bên; 3) Các thủ tục hành chính phức tạp, kéo dài; 4) Vướng mắc liên quan tới tài chính, thuế, kiểm toán.

Dưới góc độ luật pháp, đặc biệt là Luật Sở hữu trí tuệ, vấn đề góp vốn, phân chia lợi ích và thoái vốn công nghệ/vốn trí tuệ ở một công ty sẽ còn ẩn chứa rất nhiều phức tạp và hệ lụy liên quan đến bảo hộ tài sản trí tuệ mà chúng ta sẽ cùng bàn đến một cách thấu đáo trong một bài viết khác. Một ví dụ điển hình là hai thập niên trước, một vụ kiện kéo dài năm năm làm rúng động thế giới khoa học giữa công ty Nhật Bản Nichia và nhà phát minh đèn LED Shuji Nakamura, người về sau đoạt giải Nobel Vật lý năm 2014 cùng Isamu Akasaki và Hiroshi Amano, cuối cùng đã kết thúc với việc Nakamura nhận được 840 triệu Yên (tương đương 8,1 triệu USD), một số tiền chỉ đủ để trang trải chi phí pháp lý mà ông phải chịu.

Những khó khăn trong quá trình góp vốn thành lập công ty hoặc tham gia thành lập công ty, với nhà khoa học chưa phải là những khó khăn cuối cùng. Quá trình đưa một công nghệ mới vào vận hành trong dây truyền sản xuất ở thế giới thực có thể gặp muôn vàn trắc trở mà ngay cả quy mô sản xuất thử nghiệm (pilot) cũng không hình dung hết. “Chỉ có nhà khoa học làm ra công nghệ mới có đủ năng lực làm chủ được cái công nghệ ấy hoặc giải quyết được những vấn đề nó vấp phải, còn để cho người khác dùng sản phẩm công nghệ đó kinh doanh sản xuất thì có thể thất bại. Đó là lý do mà các nhà khoa học nước ngoài muốn tự mình làm doanh nghiệp”, TS. Nguyễn Quân giải thích về khó khăn phổ biến của quá trình đưa công nghệ mới, công nghệ tiên phong vào thực tế.

Đây là điều hết sức phổ biến trong chuyển giao công nghệ trong và ngoài nước. Tại hội nghị “Phát triển thị trường KH&CN đồng bộ, hiệu quả, hiện đại và hội nhập”, do Thủ tướng Phạm Minh Chính chủ trì vào tháng 9/2022, giáo sư Châu Văn Minh, Viện trưởng Viện Hàn lâm KH&CN Việt Nam, cũng cho rằng, “Về chủ trương chung, Nhà nước ta rất khuyến khích phát triển doanh nghiệp đổi mới sáng tạo” để thương mại hóa sản phẩm nghiên cứu từ viện, trường. Một trong những cách làm phổ biến trên thế giới là thành lập công ty spinoff, loại công ty “thông thường gắn chặt với tác giả tạo ra công nghệ”. Lý giải nguyên nhân tại sao rất hiếm nhà khoa học Việt Nam lập công ty spinoff, GS. Châu Văn Minh nói “đặc thù của loại hình này có tính rủi ro cao (thường chỉ 3-5% thành công), có thể không thành công nhiều lần và. Sau khi thất bại, các nhà khoa học này rất khó có thể quay trở lại con đường nghiên cứu khoa học của mình vì nhiều lý do khác nhau. Trong khi đó, hiện nay chưa có chính sách đảm bảo việc sử dụng các nhà khoa học khi triển khai doanh nghiệp đổi mới sáng tạo không thành công”. Lý do ở đây là các nhà khoa học trong trường viện phần lớn đều là viên chức lao động với các chế độ thụ hưởng đều theo bậc lương nhà nước. Việc họ rời đi tới các doanh nghiệp làm việc có nghĩa họ bị cắt biên chế, bị loại khỏi bộ máy nhân sự trường, viện và mất hết các chế độ này.

Con đường trở về với nghiên cứu của nhà khoa học, một khi thất bại, là một câu hỏi mở và chưa được đề cập đến trong các văn bản quy định, hướng dẫn. Ngay cả trong Nghị định 271 vẫn mặc nhiên coi góp vốn công nghệ là con đường một chiều đến thành công, bất chấp nhiều rào cản trước một công nghệ tiên phong.Việc không có đường lùi cho nhà khoa học, dù ở góc độ thất bại hoặc ở góc độ công ty được mua bán sáp nhập bởi các doanh nghiệp lớn, hoặc đơn giản là vì muốn tiếp tục phát triển những ý tưởng công nghệ hoàn toàn mới, khiến cho họ cảm nhận được là việc góp vốn công nghệ chỉ có một đường thẳng tiến. Một phần vì vậy mà “các nhà khoa học còn chưa mạnh dạn dấn thân vào con đường thương mại hóa và các kết quả nghiên cứu vẫn chưa được đưa vào thực tế ứng dụng”, GS. Châu Văn Minh nói.

Không chỉ thiếu những quy định về thoái vốn công nghệ cho nhà khoa học trong một công ty KH&CN mà ngay cả việc hướng dẫn xây dựng đề án thành lập, tham gia thành lập doanh nghiệp, tham gia góp vốn vào doanh nghiệp của Nghị định 271 vẫn còn chưa đầy đủ, mặc dù nghị định đã dành hẳn một chương để đề cập đến vấn đề này. “Khi đọc nghị định, tôi cũng cảm thấy không rõ là cả nhà khoa học lẫn doanh nghiệp sẽ hiểu và thực hiện hướng dẫn như thế nào”, một nhà quản lý khoa học nhiều kinh nghiệm cho biết. “Nói một cách ngắn gọn thì có nhiều điểm ảnh hưởng đến tính khả thi của văn bản hướng dẫn”.

Thực tế thì phong phú và đa dạng với rất nhiều tình huống khác nhau có thể xảy ra mà chúng ta có thể chưa quen thuộc, đặc biệt là thực tế công nghệ. Vì vậy những hành lang pháp lý mới mẻ hướng dẫn chuyển giao công nghệ/góp vốn công nghệ trong không gian trường viện vẫn cần đến việc sửa đổi và bổ sung cho hoàn thiện Luật Chuyển giao công nghệ, một bộ khung có thể đem lại những công cụ trám vào lỗ hổng chính sách của những văn bản trước.

Đó là điều mà cộng đồng khoa học và những nhà quản lý khoa học tâm huyết mong đợi. Việc có sự hướng dẫn và hỗ trợ pháp lý đầy đủ sẽ là cách để khai thác tốt nhất know-how, bí quyết công nghệ trong trái tim và khối óc của họ, nhất là khi họ nắm giữ không chỉ độc nhất một bí quyết. Có thể nhìn vào trường hợp Shuji Nakamura, người đến tháng 5/2020 nắm giữ 208 bằng sáng chế tiện ích, đã cùng với các giáo sư khác ở ĐH California ở Santa Barbara vào năm 2008 thành lập Soraa, một công ty phát triển công nghệ chiếu sáng thể rắn trên nền gali nitride nguyên chất; vào năm 2022 đồng sáng lập Blue Laser Fusion, một công ty tổng hợp thương mại, với Hiroaki Ohta, cựu Chủ tịch của nhà sản xuất máy bay không người lái ACSL và vào tháng 7/2023, huy động được 25 triệu USD từ Công ty Đầu tư mạo hiểm JAFCO Group và Mirai Creation Fund.

***

Như người ta thường nói “quả ở đây nhưng nhân lại ở chỗ khác”. Những cuộc ra mắt công ty hào nhoáng hay những màn thông báo rầm rộ về mức huy động vốn mới chỉ phản ánh cái dễ thấy bề mặt của câu chuyện góp vốn công nghệ/chuyển giao công nghệ. Trong khi đó, làm nên thành công cho nó đòi hỏi sự hoàn thiện của hệ sinh thái đổi mới sáng tạo, hệ sinh thái thị trường KH&CN, vai trò của các trung tâm chuyển giao công nghệ (TTO) trong trường, viện, mối quan hệ hợp tác chặt chẽ giữa trường, viện/nhà khoa học với doanh nghiệp, sự đầu tư đúng và đủ về kinh phí lẫn hệ thống cơ sở vật chất, và sự sẵn sàng của vốn con người được chăm chút đủ tốt (trong trường hợp này chính là nguồn nhân lực KH&CN chất lượng cao trong trường viện)...

Nếu đơn thương độc mã, những nhà khoa học như Katalin Karikó hay Shuji Nakamura không bao giờ có thể tạo nên đột phá trong nghiên cứu, chưa nói đến việc chủ động lập công ty, đưa kết quả nghiên cứu thành sản phẩm có giá trị cho xã hội và rút cục trở thành những doanh nhân triệu đô. Bởi xét cho cùng, việc khai thác vốn trí tuệ/vốn công nghệ không phải là cuộc vận động đơn độc của nhà nghiên cứu.

1/4/26

Bảy bước trong nghiên cứu khoa học theo định hướng thị trường

 Bảy bước trong nghiên cứu khoa học theo định hướng thị trường

Bên cạnh nghiên cứu cơ bản mà nền khoa học nào cũng cần đầu tư và trân trọng, ta còn có một lớp nghiên cứu khác hướng tới người dùng ngay từ khi bắt đầu dự án. Lớp nghiên cứu này sẽ đòi hỏi một cách tiếp cận và triển khai rất khác.

Nghiên cứu theo định hướng thị trường không có nghĩa là chỉ nghiên cứu cái gì bán được ngay. Nền khoa học nào cũng cần những hướng nghiên cứu cơ bản, dài hạn, thứ mà có khi mười năm, hai mươi năm sau mới nhìn thấy ứng dụng. Nhưng bên cạnh lớp đó, chúng ta cần một lớp nghiên cứu khác: lớp nghiên cứu được thiết kế ngay từ đầu với hình dung về người sử dụng cuối cùng. Lớp này chính là nơi tạo ra các sản phẩm, giải pháp, doanh nghiệp khoa học – công nghệ, và cũng là nơi tạo ra niềm tin xã hội rằng khoa học không đứng yên.

Bài viết đề xuất một cách tiếp cận thực tế: (1) hiểu rõ vai trò của từng tác nhân trong hệ sinh thái đổi mới; (2) học từ mô hình I-Corps – chương trình nổi tiếng của Mỹ trong việc “kéo nhà khoa học ra khỏi phòng thí nghiệm”; và (3) đi qua từng bước cụ thể của quy trình nghiên cứu định hướng thị trường, kèm theo những cơ chế giảm thiểu rủi ro mà Việt Nam có thể áp dụng ngay. 

Trước tiên, thay đổi điểm khởi đầu của câu hỏi nghiên cứu

Trong cách làm quen thuộc, nhóm nghiên cứu thường bắt đầu bằng một giả thuyết khoa học: một công nghệ mới, một vật liệu mới, một quy trình mới. Mục tiêu của cả đề tài là chứng minh rằng công nghệ đó hoạt động, ổn định, tốt hơn cái đang có. Cách tiếp cận này rất cần thiết cho tiến bộ tri thức. Nhưng nếu muốn hướng ra thị trường, cần dịch lại câu hỏi ban đầu thành một câu khác: “Ai thực sự gặp vấn đề này ngoài kia, họ đang giải quyết nó bằng cách nào, và họ có hài lòng với cách giải quyết hiện tại không?”.

Nghe thì đơn giản, nhưng đây là bước rất nhiều nhóm bỏ qua. Chúng ta suy đoán hộ người dùng (nhà nông chắc cần A, doanh nghiệp chắc thiếu B, bệnh viện tuyến huyện chắc khát C), thay vì đi hỏi họ. Cách tiếp cận định hướng thị trường yêu cầu làm điều có vẻ hơi ngược với bản năng hàn lâm: ra khỏi phòng thí nghiệm, nói chuyện với những người sẽ là người dùng hoặc người mua tiềm năng, và để họ mô tả vấn đề bằng ngôn ngữ của họ. Nếu họ không xem đó là một “vấn đề bức thiết”, thì khả năng cao đây không phải là điểm khởi đầu tốt để thương mại hóa, dù về mặt khoa học nó có thể rất thú vị.

————————–

I-Corps: Cây cầu buộc nhà khoa học phải gặp thị trường

Ở Mỹ, chương trình I-Corps của Quỹ Khoa học Quốc gia (NSF) ra đời vì một câu hỏi rất thẳng: tại sao có quá nhiều công nghệ đầy tiềm năng trong phòng thí nghiệm, nhưng không trở thành sản phẩm hay công ty? Câu trả lời hóa ra không phải vì công nghệ quá yếu, mà vì các nhà khoa học chưa từng được dạy cách lắng nghe thị trường.

I-Corps không dạy kỹ thuật. I-Corps dạy đối thoại.

Trong chương trình này, nhóm nghiên cứu (thường gồm một nhà khoa học chính, một người có vai trò “trưởng nhóm doanh nghiệp” – entrepreneurial lead, và một mentor có kinh nghiệm thương mại hóa) được yêu cầu làm việc như sau:

 – Họ phải tự mình đi phỏng vấn hàng chục, thậm chí hàng trăm khách hàng tiềm năng trong vài tuần.

– Họ phải mô tả công nghệ bằng ngôn ngữ người dùng cuối có thể hiểu, thay vì ngôn ngữ học thuật.

– Họ phải ghi nhận phản hồi thật, kể cả phản hồi “chúng tôi không cần thứ này”.

– Họ phải điều chỉnh giả thuyết: nếu khách hàng không quan tâm đến ứng dụng A nhưng lại phản ứng rất tích cực với ứng dụng B, thì ứng dụng B phải được cân nhắc nghiêm túc.

Điều thú vị nhất là cơ chế tài trợ. I-Corps không nói “cứ nghiên cứu đi rồi chúng tôi sẽ cấp tiền làm sản phẩm”. Ngược lại: tiền tiếp theo chỉ đến khi nhóm chứng minh rằng họ đã tìm thấy một vấn đề thị trường có thật và có người sẵn sàng trả tiền để giải quyết. Tức là tài trợ dựa trên bằng chứng về nhu cầu, chứ không chỉ dựa trên tính mới khoa học thuần túy.

Cách làm này giảm rủi ro ở đâu?

– Giảm rủi ro cho Nhà nước: tiền ngân sách không đổ vào những hướng không có đầu ra xã hội/kinh tế rõ ràng.

– Giảm rủi ro cho nhà khoa học: họ không phải lập công ty quá sớm chỉ để “chứng minh mình nghiêm túc”. Họ được phép học và điều chỉnh trước.

– Giảm rủi ro cho nhà đầu tư tư nhân sau này: những dự án đã qua I-Corps thường bước vào giai đoạn gọi vốn với dữ liệu thị trường ban đầu khá rõ, thay vì chỉ có “niềm tin khoa học”.

Nói ngắn gọn, I-Corps làm một việc rất căn bản: ép nhà khoa học nói chuyện với người dùng cuối trước khi nhận thêm tiền.

Đây là điểm mà Việt Nam có thể học rất nhanh. Chúng ta không nhất thiết phải sao chép toàn bộ mô hình Mỹ, nhưng tư tưởng “funding after validation” – tài trợ sau kiểm chứng thị trường ban đầu – hoàn toàn có thể thử nghiệm ở cấp bộ, cấp trường, thậm chí cấp tỉnh. Nếu làm đúng, đây sẽ là cơ chế giảm thiểu rủi ro kiểu mới: rủi ro không biến mất, nhưng được nhìn thấy sớm.

—————————-

Ví dụ rất điển hình từ các chương trình như I-Corps ở Mỹ: một nhóm nghiên cứu y sinh nghĩ rằng công nghệ mới của họ sẽ giúp bệnh viện tiết kiệm thời gian chẩn đoán. Khi họ đi phỏng vấn các bệnh viện, họ phát hiện ra điều không ai trong phòng thí nghiệm nghĩ tới: bệnh viện không quan tâm nhất đến tốc độ chẩn đoán, họ quan tâm đến trách nhiệm pháp lý nếu kết quả chẩn đoán sai. Nghĩa là thứ “giá trị” mà nhóm nghiên cứu tin là quan trọng (nhanh hơn) không phải là thứ bệnh viện sẵn sàng trả tiền (an toàn hơn, đứng vững về mặt pháp lý). Chỉ riêng thông tin đó đã đủ để nhóm phải điều chỉnh lại hướng ưu tiên.

Đây chính là bước đầu tiên của nghiên cứu định hướng thị trường: thay vì chứng minh công nghệ có giá trị nói chung, hãy chứng minh công nghệ giải quyết một nỗi đau cụ thể của một nhóm người cụ thể trong một bối cảnh cụ thể. Và để làm được điều đó, phải nghe họ nói bằng tiếng của họ, không phải bằng tiếng của mình.

Thành thật về quy mô và điều kiện của thị trường

Rất nhiều ý tưởng nghiên cứu nghe vô cùng hợp lý ở cấp độ kỹ thuật, nhưng khi đi vào bối cảnh kinh tế – xã hội thực tế lại trở nên khó triển khai. Giải pháp lọc nước thải nông nghiệp có thể tuyệt vời trong phòng thí nghiệm, nhưng nếu một hộ nuôi tôm cỡ nhỏ phải bỏ ra vốn ban đầu lớn hơn cả lợi nhuận của một vụ nuôi thì sẽ chẳng ai áp dụng; hoặc nếu phải làm thủ tục xin phép phức tạp hơn khả năng quản lý của hộ sản xuất thì giải pháp sẽ nằm trên giấy, không phải vì nó dở, mà vì nó không khớp với cấu trúc chi phí – thủ tục hiện có.

Nghiên cứu theo định hướng thị trường đòi hỏi một sự thẳng thắn đôi khi hơi phũ: không phải bài toán nào cũng là bài toán thương mại. Có những vấn đề xã hội nghiêm trọng, nhưng hiện chưa có mô hình kinh tế nào để duy trì giải pháp theo cơ chế thị trường. Những trường hợp như vậy vẫn đáng làm, nhưng nên được nhìn nhận là nhiệm vụ dịch vụ công, chứ đừng ép nó mang kỳ vọng “bán được hằng ngay”. Ngược lại, với những bài toán thực sự có dòng tiền đằng sau (ví dụ: truy xuất nguồn gốc nông sản xuất khẩu, giảm thất thoát năng lượng trong nhà máy, cảm biến sức khỏe từ xa ở bệnh viện thiếu bác sĩ), thì việc phân tích quy mô thị trường, quy định pháp lý, đối thủ hiện có… là bước giúp nhóm nghiên cứu không đi vào ngõ cụt.

Tức là, trước khi chạy tiếp, hãy trả lời cho được: “Nếu sản phẩm này tồn tại, ai sẽ trả tiền, bằng ngân sách nào, theo cơ chế nào?” Nếu không trả lời được, đây là dấu hiệu cảnh báo cần điều chỉnh, không phải dấu hiệu phải bỏ cuộc. Và điều chỉnh hướng nghiên cứu ở giai đoạn này luôn rẻ hơn nhiều so với điều chỉnh khi đã đổ ba năm công sức vào phát triển công nghệ.

Đưa kết quả phân tích thị trường quay trở lại bàn nghiên cứu

Đây là chỗ nhiều nhà khoa học cảm thấy khó chịu nhất, vì nó buộc phải thay đổi thói quen tư duy. Chúng ta lớn lên trong môi trường mà “đổi hướng giữa chừng” thường bị coi là “chưa chín chắn”. Trong khi đó, tư duy định hướng thị trường coi việc điều chỉnh đề tài theo dữ liệu thực tế là điều bình thường, thậm chí là một dấu hiệu lành mạnh.

Ở Mỹ, các nhóm tham gia I-Corps thường đi qua đúng khoảnh khắc này: họ bắt đầu chương trình với một tuyên bố khá tự tin (“chúng tôi đang phát triển giải pháp X cho thị trường Y”), và kết thúc chương trình với một tuyên bố hoàn toàn khác (“thị trường Y không thực sự quan tâm, nhưng phân khúc Z lại kêu cứu và sẵn sàng trả tiền; chúng tôi sẽ hướng công nghệ X sang Z trước”). Nếu nghĩ theo thói quen cũ, đó là “lệch đề tài”. Nếu nghĩ theo cách mới, đó chính là tối ưu hóa con đường thương mại hóa: tìm đầu ra thật cho tri thức của mình.

Đây cũng là lúc cần bắt đầu nghĩ đến hai yếu tố nghe có vẻ “phi khoa học” nhưng lại rất quan trọng: quyền sở hữu trí tuệ và mô hình giá trị.

Quyền sở hữu trí tuệ (IP) không phải lúc nào cũng đồng nghĩa với “đăng ký bằng sáng chế càng sớm càng tốt”. Đôi khi việc chạy đi đăng ký quá vội khiến ta khóa mình vào một cách triển khai nhất định trước khi thực sự hiểu ứng dụng phù hợp. Ngược lại, cũng không thể cứ thoải mái chia sẻ mọi thứ với doanh nghiệp đối tác mà không có khung bảo hộ nào, vì đến lúc sản phẩm bắt đầu có giá trị thương mại thì câu hỏi “công nghệ này thuộc về ai?” sẽ trở nên nhạy cảm, và dễ làm hỏng mối quan hệ hợp tác. Cách làm của các trường như UCL (University College London) hay Cambridge là ngồi xuống với nhà khoa học rất sớm, vẽ ra trước những kịch bản khả thi cho công nghệ đó: cấp phép? lập công ty spin-off? hợp tác phát triển riêng với một đối tác công nghiệp? Và với mỗi kịch bản ấy, ai giữ quyền gì, chia sẻ lợi ích như thế nào, trách nhiệm ra sao. Làm rõ trước không phải để gây áp lực, mà để tạo lòng tin. Khi mọi người biết trước cách chia, họ sẵn lòng cùng đi xa hơn.

Còn mô hình giá trị là câu hỏi nghe có vẻ “kinh doanh” nhưng thật ra liên quan trực tiếp đến sự sống còn của khoa học ứng dụng: cụ thể thì giải pháp của bạn tạo ra giá trị kiểu gì cho người dùng – tiết kiệm chi phí? tăng sản lượng? giảm rủi ro pháp lý? mở ra thị trường xuất khẩu mới? tăng độ chính xác chẩn đoán? giảm nhân lực vận hành? Mỗi dạng giá trị sẽ dẫn đến cách định giá khác nhau. Nếu bạn giúp nông dân tăng năng suất mùa vụ, cách thuyết phục họ sẽ khác với việc bạn giúp bệnh viện giảm nguy cơ kiện tụng. Biết mình tạo ra loại giá trị nào quyết định cách kể câu chuyện về sản phẩm. Cách kể câu chuyện này không phải chiêu PR; nó chính là cầu nối giữa ngôn ngữ của khoa học và ngôn ngữ của người mua.

Khi ba lớp nói trên – nhu cầu thật, điều kiện thị trường thật, giá trị mang lại thật – đã đủ rõ, lúc đó mới đáng để bước sang giai đoạn mà nhiều người rất nôn nóng: làm nguyên mẫu.

Làm nguyên mẫu (một phiên bản thử có thể chạy được, dù chưa hoàn hảo) không phải để khoe thành tựu trong hội thảo, mà để đưa vào tay người dùng tiềm năng càng sớm càng tốt. Mục tiêu của nguyên mẫu (prototype) không phải là chứng minh “nó chạy được”, mà là quan sát “người dùng có thực sự dùng nó không”. Đây là bước mà các nhà khoa học, kỹ sư và người có tư duy kinh doanh nên ngồi cạnh nhau. Nó là bài kiểm tra thực tế đầu tiên cho thấy ba thế giới có nói chuyện được không. Khi một điều dưỡng viên ở bệnh viện tuyến tỉnh nói “em không có thời gian bấm 5 bước như vậy đâu”, đó không phải một lời phàn nàn vụn vặt, mà là thông tin thiết kế. Khi một hộ nuôi tôm bảo “chị không thể bảo tôi nhập số liệu mỗi ngày đâu, tôi bận”, thì đó là tín hiệu cho thấy sản phẩm cần cảm biến tự động chứ không thể dựa vào nhập tay. Thị trường lúc này không còn là khái niệm trừu tượng; nó trở thành một người cụ thể đang cầm sản phẩm của bạn và nói thẳng với bạn.

Từ nguyên mẫu đến sản phẩm thương mại, thường có một đoạn đường dễ gây ảo tưởng. Nhiều nhóm nghĩ rằng “miễn là công nghệ tốt thì sẽ có doanh nghiệp vào tiếp quản và bán giúp chúng tôi”. Thực tế ở các đại học mạnh trên thế giới cho thấy mọi chuyện không đơn giản vậy. Ngay cả những đơn vị đã rất chuyên nghiệp như UCLB ở Anh, họ cũng mất gần mười năm đầu tư kiên nhẫn trước khi bắt đầu có những thương vụ spin-out lớn, và trong suốt thời gian đó, trường đại học vẫn phải trả lương để bộ phận chuyển giao công nghệ tồn tại. Nghĩa là, ngay cả trong điều kiện lý tưởng về vốn, thể chế và thị trường, thương mại hóa không bao giờ là “đưa cho doanh nghiệp là xong”. Nó là một quá trình đồng hành.

Đây là chỗ mà nhiều người trong hệ thống Việt Nam cảm thấy “ngại”: ai sẽ là người đồng hành? Câu trả lời trung thực là: không thể chỉ có một phía. Trường đại học không thể chỉ làm nghiên cứu rồi đẩy ra ngoài; doanh nghiệp không thể đòi hỏi sản phẩm hoàn hảo hoàn toàn phù hợp dây chuyền hiện có ngay từ ngày đầu; cơ quan quản lý không thể chỉ yêu cầu “chứng minh hiệu quả kinh tế ngay lập tức”. Nếu ba phía không cùng ngồi, thì sản phẩm rất dễ chết yểu ở đoạn chuyển giao, không phải vì công nghệ tệ mà vì không ai kiên nhẫn cùng ai.

Vì vậy, có một thay đổi nhỏ nhưng rất ý nghĩa mà nhiều trường đại học trên thế giới đã áp dụng: thay vì nói với giảng viên và nhà khoa học rằng “hãy lập công ty đi”, thì nên mời họ tham gia những trao đổi ban đầu với doanh nghiệp ở vai trò chuyên gia, cố vấn, đồng thiết kế giải pháp. Nhà trường đứng ra bảo hiểm trách nhiệm pháp lý, cho phép sử dụng tên tuổi của trường khi ký tư vấn, hỗ trợ quy trình hợp đồng. Điều này nghe có vẻ thủ tục, nhưng lại vô cùng quan trọng về tâm lý: nhà khoa học không còn cảm giác bị đẩy ra khỏi vùng an toàn; họ cảm thấy được bảo vệ khi bước ra ngoài. Và chính những lần “bước ra ngoài có người đi cùng” như vậy tạo nên sự liên kết đầu tiên giữa phòng thí nghiệm và thị trường, một cách tự nhiên và bền hơn là mệnh lệnh hành chính.

Nếu nhìn toàn bộ quá trình vừa mô tả – từ việc xác định đúng vấn đề thị trường, kiểm tra xem thị trường đó có thực sự tồn tại về mặt kinh tế – pháp lý hay không, điều chỉnh hướng nghiên cứu dựa trên dữ liệu thực tế, làm rõ quyền sở hữu trí tuệ và cách chia sẻ lợi ích, xây dựng nguyên mẫu để lắng nghe phản hồi từ người dùng thật, rồi ngồi cùng doanh nghiệp để tính đường đi ra thị trường – thì ta sẽ thấy một điều quan trọng: tất cả những bước đó đều là những cơ chế giảm rủi ro. Bốn cơ chế giảm rủi ro sau đây là những cơ chế đã được sử dụng ở các hệ thống trưởng thành:

– Giảm rủi ro nhận thức cho nhà khoa học

Chương trình kiểu I-Corps tạo không gian an toàn để nhà khoa học học ngôn ngữ thị trường mà không bị buộc phải “làm startup ngay lập tức”. Đây là giai đoạn luyện kỹ năng, không phải giai đoạn bị đẩy ra khỏi hệ thống học thuật

– Giảm rủi ro tài chính cho Nhà nước

 Tài trợ theo nguyên tắc “sau kiểm chứng nhu cầu ban đầu” giúp nguồn lực công không bị dồn vào những hướng không ai dùng được. Nhà nước không cần rót tiền lớn từ đầu; Nhà nước rót tiền nhỏ để lấy dữ liệu chân thực, rồi quyết định có rót tiền lớn hay không.

– Giảm rủi ro pháp lý và sở hữu trí tuệ

Việc làm rõ quyền sở hữu IP, cơ chế chia sẻ lợi ích, tỷ lệ cổ phần khi lập công ty spin-off… giúp tránh những tranh chấp cay đắng về sau giữa nhà khoa học và trường đại học. Ở Anh, UCLB tồn tại bền bỉ không chỉ vì họ có công nghệ y sinh xuất sắc, mà vì họ có cơ chế phân chia lợi ích đủ rõ để mọi bên cảm thấy mình được tôn trọng.

– Giảm rủi ro kỳ vọng xã hội

Một trong những bài học quan trọng từ các đại học như Cambridge hay UCL là: cần nói thật rằng thương mại hóa là quá trình nhiều năm, thậm chí nhiều chục năm. Nếu chúng ta tạo áp lực “ra doanh thu ngay”, chúng ta sẽ đẩy nhà khoa học vào chỗ phòng thủ, và họ sẽ khép cửa lại. Ngược lại, nếu chúng ta coi việc đối thoại với doanh nghiệp, nhận hợp đồng tư vấn ban đầu, đồng thiết kế giải pháp… là những bước có giá trị xã hội ngang với “ra công ty”, chúng ta sẽ giữ họ trong cuộc chơi lâu hơn.

Và như vậy, thay đổi văn hóa sẽ diễn ra một cách tự nhiên hơn, thay vì cưỡng ép.□

——————–

Nghiên cứu định hướng thị trường: Bảy bước không chỉ để ghi nhớ, mà để vận hành

Nghiên cứu định hướng thị trường không phải là “đi hỏi khách hàng thích gì rồi làm đúng như vậy”, vì nếu chỉ dừng ở đó thì chúng ta sẽ không bao giờ có đổi mới đột phá. Bảy bước dưới đây nên được hiểu như một chu trình lặp – mỗi bước vừa là một hoạt động kỹ thuật, vừa là một điểm kiểm soát rủi ro.

Bước 1. Xác định nhu cầu thị trường

Thay vì bắt đầu bằng “tôi có công nghệ X”, quá trình bắt đầu bằng “ở đâu đang có vấn đề cụ thể mà chưa được giải quyết đủ tốt?”. Đó có thể là nông dân cần xử lý sâu bệnh nhưng không thể dùng thuốc tồn dư cao vì bị chặn xuất khẩu; bệnh viện tuyến tỉnh không đủ thiết bị chẩn đoán nhưng chi phí máy móc hiện nay quá cao; hay chuỗi cung ứng thủy sản cần theo dõi truy xuất nguồn gốc đạt chuẩn xuất khẩu, nhưng giải pháp hiện tại quá phức tạp với quy mô hộ nhỏ.

Giai đoạn này có một thói quen tốt: phỏng vấn, quan sát, ghi chép, thay vì suy đoán hộ người dùng. Và quan trọng hơn nữa: viết nhu cầu đó bằng câu nói của người dùng, không phải bằng câu dịch thuật ngữ kỹ thuật.

Đây là chốt giảm rủi ro đầu tiên: nếu chúng ta không thể mô tả vấn đề bằng ngôn ngữ của người chịu vấn đề, có nghĩa là ta chưa hiểu vấn đề.

Bước 2. Phân tích thị trường và cạnh tranh

Khi đã nắm vấn đề, bước tiếp theo là thành thật về bối cảnh kinh tế xung quanh nó. Thị trường này lớn đến mức nào? Ai đang cố giải quyết nó rồi? Có rào cản pháp lý, tiêu chuẩn quốc tế, giấy phép nào khiến giải pháp khó triển khai không?

Nhiều dự án nghiên cứu bị “đứng hình” ở giai đoạn thương mại hóa đơn giản vì câu trả lời ở bước này bị bỏ qua. Ví dụ: một giải pháp xử lý nước thải nông nghiệp có thể rất hay về mặt kỹ thuật, nhưng nếu chi phí lắp đặt mỗi điểm quá cao so với biên lợi nhuận của hộ sản xuất, thì không thể gọi đó là “giải pháp thương mại hóa được” – nó chưa phù hợp với cấu trúc kinh tế của người sẽ phải trả tiền.

Bước hai là điểm giảm rủi ro tài chính và pháp lý. Nó giúp tránh tình trạng đầu tư nhiều năm vào một hướng gần như không thể được chấp thuận, hoặc không thể bán vì không khớp khung chi phí.

Bước 3. Điều chỉnh hướng R&D dựa trên dữ liệu thị trường

Đây là đoạn khó nhất với rất nhiều nhà khoa học: chấp nhận điều chỉnh câu hỏi nghiên cứu.

Cách tiếp cận truyền thống thường là: “Chúng tôi đã đi xa tới đây rồi, xin thêm tài trợ để hoàn thiện nốt.” Cách tiếp cận định hướng thị trường lại hỏi: “Phần nào của nghiên cứu này thực sự chạm tới một nhu cầu đủ lớn để có thể trở thành sản phẩm hoặc dịch vụ bền vững? Phần nào nên tạm gác lại cho hướng nghiên cứu sâu hơn, chưa cần thương mại hóa ngay?”

Điều này không có nghĩa là khoa học bị “thương mại hóa hóa” toàn bộ. Nó chỉ có nghĩa là nguồn lực triển khai (thời gian của nhóm nghiên cứu, kinh phí làm mẫu thử, cơ hội tiếp cận doanh nghiệp đối tác) được ưu tiên vào những nhánh có tiềm năng sống sót trong môi trường thực tế.

Giảm rủi ro ở đây là giảm rủi ro cơ hội: ta ngưng đổ công sức vào những nhánh mà thị trường chưa sẵn sàng hấp thụ, để tập trung vào nhánh có xác suất sống cao hơn.

Bước 4. Bảo hộ sở hữu trí tuệ (IP)

Ở Việt Nam, bước này thường hoặc bị bỏ qua, hoặc bị hiểu sai.

Bỏ qua thì nguy hiểm: nếu không bảo hộ IP đúng lúc, đội nghiên cứu mất quyền kiểm soát công nghệ của chính mình khi bước vào hợp tác với doanh nghiệp. Hiểu sai cũng nguy hiểm: đôi khi ta đăng ký bằng sáng chế quá sớm hoặc quá rộng, tốn thời gian và chi phí, trong khi bản chất công nghệ còn chưa rõ ứng dụng cụ thể.

Ý nghĩa thật sự của bảo hộ sở hữu trí tuệ trong mô hình định hướng thị trường là:

– Xác lập ranh giới ai sở hữu cái gì để tránh tranh chấp sau này.

– Tạo điều kiện đàm phán minh bạch khi đi vào giai đoạn hợp tác thử nghiệm với doanh nghiệp.

– Tạo nền tảng để sau này có thể cấp phép, chia sẻ doanh thu, hoặc góp vốn bằng tài sản trí tuệ vào công ty spin-off.

Đây là điểm giảm rủi ro quan hệ: IP rõ ràng giúp giữ niềm tin giữa nhà khoa học, trường đại học và doanh nghiệp.

Bước 5. Phát triển nguyên mẫu/sản phẩm khả thi tối thiểu (MVP) và kiểm chứng

Đây là phần mà I-Corps rất coi trọng: phải có thứ gì đó cụ thể để người dùng chạm vào, thử, phản hồi. Nguyên mẫu này không cần hoàn hảo. Thậm chí nó không nên hoàn hảo. Nó chỉ cần đủ để người dùng thực sự cho ta biết: “Có hữu ích không? Có dùng nổi không? Có đáng tiền không?”

Ở giai đoạn này, nhà khoa học, kỹ sư và – lý tưởng nhất – một người có tư duy kinh doanh ngồi cùng bàn. Chính đây là tiếng nói chung đầu tiên giữa ba thế giới: nghiên cứu, kỹ thuật, thị trường. Với Việt Nam, việc tập cho các nhóm nghiên cứu vận hành được khoảnh khắc này là vô giá.

Bước năm giảm rủi ro công nghệ và rủi ro chấp nhận của người dùng. Thay vì mang sản phẩm “chín ép” ra thị trường, ta để thị trường tham gia vào quá trình nuôi lớn nó.

Bước 6. Xây dựng chiến lược thương mại hóa

Rất nhiều dự án khoa học vấp ở đây, không phải ở công nghệ. Câu hỏi không còn là “làm được chưa”, mà chuyển thành “ai trả tiền cho ai, theo cơ chế nào?”.

Có ba con đường chính thường xuất hiện:

1. Bán giấy phép sử dụng công nghệ cho một doanh nghiệp đã có thị trường (licensing).

2. Thành lập công ty spin-off với sự tham gia cổ phần của trường, nhóm nghiên cứu, và có thể là một nhà đầu tư mồi.

Liên doanh / hợp tác phát triển (joint development) với một đối tác công nghiệp lớn – đặc biệt phổ biến trong những ngành đòi hỏi vốn đầu tư hạ tầng rất lớn như vật liệu mới, thiết bị y tế, năng lượng.

Ở giai đoạn này, nhóm nghiên cứu cần đưa ra bản đồ đi thị trường (go-to-market), mô hình giá, kênh phân phối, kế hoạch huy động vốn. Đây không phải “việc của phòng kinh doanh”, vì nếu câu trả lời không rõ, sản phẩm có thể chết yểu dù công nghệ tốt.

Bước sáu giảm rủi ro triển khai thương mại: nó buộc cả hệ thống nhìn vào thực tế tài chính thay vì đắm chìm trong sự hưng phấn công nghệ.

Bước 7. Đưa ra thị trường và mở rộng quy mô

Đến đây, vai trò của nhà khoa học chưa kết thúc. Trên thực tế, ở nhiều đại học mạnh (Anh, Mỹ, Hàn Quốc), nhà khoa học vẫn đồng hành giai đoạn đầu sau ra mắt sản phẩm, ít nhất ở ba vai trò:

– Người bảo đảm tính chính xác khoa học / kỹ thuật cốt lõi (để sản phẩm không bị “biến dạng” vì áp lực thương mại).

Nguyễn Đặng Tuấn Minh - Tiasang

——————-

Tài liệu tham khảo: 

– No Science, No Startups: The Innovation Engine We’re Switching Off https://steveblank.com/category/nsf-national-science-foundation/

– https://www.parachute16.com/p16-blog/from-lab-to-market-the-power-of-research-commercialization

– https://durolabs.co/blog/commercialization/

– https://www.ama.org/marketing-news/how-to-conduct-a-market-analysis-a-complete-guide-for-businesses-and-marketers/

– https://www.competitiveintelligencealliance.io/market-research-guide/

– https://resources.stryber.com/research-development-commercialization-success-story

– https://www.pragmaticinstitute.com/resources/articles/product/7-keys-to-market-driven-organization-how-to-know-if-yours-is-one/

– https://www.sba.gov/business-guide/plan-your-business/market-research-competitive-analysis

– https://www.smartbugmedia.com/blog/the-5-step-marketing-research-process

– https://www.driveresearch.com/market-research-company-blog/a-guide-to

Người theo dõi

Mời bạn cùng lên đường!

Mời bạn cùng lên đường!