Lưu trữ Blog

13/8/26

Cây Lương Thực (Food Crops)

Cây Lương Thực (Food Crops) 

Cây Lương Thực (Food Crops) Hoàng Kim Long HoangKimcnm365.hom.blog

Cây Lương Thực (Food Crops)

CÂY LƯƠNG THỰC VIỆT NAM
Lúa, ngô (bắp), sắn, khoai lang là bốn loại cây lương thực chính https://vi.wikipedia.org/wiki/C%C3%A2y_l%C6%B0%C6%A1ng_th%E1%BB%B1c
Lúa, ngô (bắp), sắn và khoai lang chính là bốn loại cây lương thực chủ lực, đóng vai trò nền tảng trong nền nông nghiệp và an ninh lương thực của Việt Nam. [1, 2]

I. Đặc điểm chính của 4 loại cây:

Cây khoai lang: Cây lương thực dạng củ quen thuộc, dễ trồng, giàu dinh dưỡng và thích nghi rộng khắp các vùng miền. [1, 2, 3]

Cây lúa: Cung cấp hạt gạo là nguồn thức ăn chính và mặt hàng xuất khẩu chiến lược lớn nhất của nước ta.

Cây ngô (bắp): Cây lương thực có hạt quan trọng, vừa phục vụ tiêu dùng vừa làm nguồn thức ăn lớn cho chăn nuôi.

Cây sắn (củ mì): Loại cây lấy củ chịu hạn tốt, có sản lượng và giá trị xuất khẩu cao.

II. Đậu, rau, củ, quả, cây dược liệu và động vật làm thuốc

Đậu, rau, củ, quả, cây dược liệu và động vật làm thuốc đã được đúc kết hệ thống hóa trong Cây thuốc và động vật làm thuốc ở Việt Nam (hình 2) làm nền tảng phong phú thức ăn đồ uống Việt (Vietnamese food and drink)

III CÂY LƯƠNG THỰC VIỆT NAM
“Land and Food Crops Lovers”


Cây lương thực (Food crops) là nhóm cây trồng mà sản phẩm dùng làm lương thực cho người, nguồn thức ăn chính về năng lượng (tinh bột, đường) cacbohydrat và chất dinh dưỡng thiết yếu trong khẩu phần ăn. Chúng bao gồm các loại ngũ cốc (lúa, ngô, lúa mì, yến mạch), củ/rễ (khoai tây, khoai lang, sắn), các loại đậu/hạt (đậu nành, đậu phộng, đỗ), và cả trái cây/rau quả, đóng vai trò quan trọng trong an ninh lương thực toàn cầu, với các loại phổ biến nhất thế giới là lúa, ngô, lúa mì, khoai tây và sắn. Lúa, ngô (bắp), sắn, khoai lang là bốn loại cây lương thực chính https://vi.wikipedia.org/wiki/C%C3%A2y_l%C6%B0%C6%A1ng_th%E1%BB%B1c
Lúa, ngô (bắp), sắn và khoai lang chính là bốn loại cây lương thực chủ lực, đóng vai trò nền tảng trong nền nông nghiệp và an ninh lương thực của Việt Nam. [1, 2]

Các loại cây lương thực chính

  • Lúa (Oryza sativa): Cây ngũ cốc quan trọng nhất, cung cấp gạo, là nguồn lương thực chính cho hơn một nửa dân số thế giới, đặc biệt là ở châu Á.
  • Ngô (Bắp): Một cây ngũ cốc quan trọng trên thế giới, dùng làm lương thực và thức ăn gia súc.
  • Sắn (Khoai mì): Cây trồng lấy củ giàu tinh bột, quan trọng ở các vùng nhiệt đới.
  • Khoai lang: Củ có thể dùng làm lương thực, cung cấp năng lượng.
  • Cao lương (Sorghum): Ngũ cốc quan trọng thứ 5 thế giới sau lúa, lúa mì, ngô, đại mạch.
  • Kê (Setaria): Hạt nhỏ, được sử dụng làm lương thực. 

Đặc điểm và vai trò

  • Nguồn cung cấp năng lượng: Cung cấp tinh bột và năng lượng chính cho khẩu phần ăn con người.
  • Giá trị toàn cầu: Lúa và ngô là những cây lương thực có tầm quan trọng toàn cầu, được trồng và tiêu thụ rộng rãi.
  • Phân biệt với lương thực khác: Ngũ cốc (hạt) có độ bền cao hơn trái cây có tinh bột và củ, phù hợp cho công nghiệp và dự trữ. 

Sản xuất lúa gạo tại Việt Nam

Vụ mùa: Miền Bắc có vụ chiêm và vụ mùa; miền Nam có vụ đông xuân, hè thu và vụ ba. 
Vùng trọng điểm: Đồng bằng sông Hồng và Đồng bằng sông Cửu Long.

THỨC ẮN ĐỒ UỐNG VIỆT
(Vietnamese Food and Drink)
Hoàng Long https://www.facebook.com/hoanglongvaas & https://khatkhaoxanh.wordpress.com/2026/08/13/thuc-an-do-uong-viet/ Hoàng Kim Cây Lương Thực liên kết
Bếp Nhà Quốc và trang Thức ăn đồ uống Việt
https://khatkhaoxanh.wordpress.com/2026/08/13/thuc-an-do-uong-viet/

HAI GIỐNG KHOAI LANG NGON HL518 VÀ HL491
Cây Lương Thực #cltvn #cnm365 DẠY VÀ HỌC #Vietnamhoc

gọi là khoai đỏ HL518 (vỏ đỏ ruột cam) hính 1 và hình 2, khoai tím HL491 (vỏ tím ruột tím) hình 3, hình 4 và hình 5 của khoai lang Tím Nhật HL419 Bình Tân (Vĩnh Long), và khoai lang Đỏ Nhật HL518 Lệ Cần xã Tân Bình, Đak Đoa, Gia Lai. Vì nổi tiếng dân ưa chuộng nên hai giống khoai lang này đã được trồng nhiều nơi ở Việt Nam. Nhưng do chỉ nhân giống bằng dây nên củ không còn nguyên phẩm chất như ban đầu; thiếu chọn tạo phục tráng hệ củ nhiều năm (1997-2026) theo chuẩn khảo nghiệm DUS và VCU, vì khoai lang chưa được đầu tư nghiên cứu phát triển đúng mức
(Hoàng Long Hoàng Kim chủ biên Cây Lương Thực)

H1: Nguồn gốc giống: Giống khoai lang HL518 (Nhật đỏ) là giống khoai lang Việt Nam ưu tú có nguồn gốc từ tổ hợp lai Kokey 14 Nhật Bản polycross, tạo giống tại Việt Nam; giống do Trung tâm Nghiên cứu Thực nghiệm Nông nghiệp Hưng Lộc, Viện Khoa học Kỹ thuật Nông nghiệp Miền Nam chọn tạo và giới thiệu (Nguyễn Thị Thủy, Hoàng Kim, Trần Công Khanh, Nguyễn Thị Sâm 1997) Giống khoai lang HL518 (Nhật đỏ) đã được Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn công nhận giống năm 1997; hiện trồng phổ biến trong sản xuất và bán nhiều ở các siêu thị (*).

Đặc tính giống: HL518 là giống khoai lang rất ngon. Thời gian sinh trưởng từ 95 đến 110 ngày. Năng suất củ tươi: 17-32 tấn/ha, tỷ lệ chất khô 27-30%. chất lượng củ luộc rất ngon, vỏ củ màu đỏ đậm, thịt củ màu cam đậm, dạng củ đều đẹp, dây xanh tím, nhiễm nhẹ sùng, hà và sâu đục dây. Các chợ và siêu thị trên toàn quốc đều có bán. Mười kỹ thuật canh tác khoai lang cần tuyển lại hệ củ theo bản tả kỹ thuật đã đăng ký, để đảm bảo chất lượng và năng suất.

(*) Ghi chú: Nguyễn Thị Thủy, Hoàng Kim, Trần Công Khanh, Nguyễn Thị Sâm 1997. Hai giống khoai lang mới HL518 và HL491. Tài liệu báo cáo công nhận hai giống khoai lang HL518 và HL419. Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn. Hội nghị khoa học kỹ thuật nông nghiệp ở các tỉnh phía Nam tổ chức tại thành phố Hồ Chí Minh ngày 16-18/9/1997. 18 trang. Two new sweet potato varieties: HL 518 and HL 491. In: MARD Proc. Vietnam Agricultural Research Workshop held in Ho Chi Minh City, Vietnam, Sep 16- 18/1997. 18p.
https://khatkhaoxanh.wordpress.com/2026/06/06/cay-luong-thuc-food-crops/

Giống Sắn KM568

Giống Sắn KM537

NGHIÊN CỨU CHỌN TẠO GIỐNG SẮN NĂNG SUẤT TINH BỘT CAO,
KHÁNG ĐƯỢC SÂU BỆNH HẠI CHÍNH, PHÙ HỢP VỚI ĐIỀU KIỆN
SẢN XUẤT TẠI TỈNH PHÚ YÊN

Nguyễn Thị Trúc Mai[1],Hoàng Kim[2], Hoàng Long[3] và đồng sự sắn Phú Yên[4] 

Hai giống sắn KM568, KM537 năng suất tinh bôt cao, kháng bệnh khảm là chồi rồng cùng với quy trình mười kỹ thuật canh tác sắn thích hợp tại tỉnh Phú Yên là kết quả nổi bật đạt được. Nhiệm vụ sắn Phú Yên 2021-2024 “Nghiên cứu chọn tạo giống sắn năng suất tinh bột cao, kháng được sâu bệnh hại chính, phù hợp với điều kiện sản xuất của tỉnh Phú Yên”  do UBND tỉnh Phú Yên giao cho Sở Khoa học Công nghệ Phú Yên chủ quản, Chi Cục Trồng Trọt và Bảo Vệ Thực Vật tỉnh Phú Yên chủ trì thực hiện. Mục tiêu nhiệm vụ: Chọn tạo được giống sắn có năng suất tinh bột vượt hơn đối chứng KM419 và KM94 tối thiểu 10%, kháng được sâu bệnh hại chính, đạt điểm bệnh cấp 1-2 đối với bệnh khảm lá virus CMD và bệnh chồi rồng CWBD, thích hợp với điều kiện sản xuất tại tỉnh Phú Yên. Nội dung công việc: Nội dung 1: Cải tiến nâng cấp giống sắn chủ lực sản xuất KM419 bằng cách lai hữu tính giống sắn chủ lực sản xuất KM419 với giống sắn triển vọng KM440 và giống sắn C39* kháng bệnh CMD để tích hợp gen kháng bệnh. Nâng cấp giống sắn KM419 bằng cách thu hạt lai 5 tổ hợp đầu dòng ưu tú, chọn dòng phả hệ, khảo sát tập đoàn 27 giống, khảo nghiệm DUS 7 giống sắn. Nội dung 2: Tuyển chọn giống sắn năng suất tinh bột cao, chống chịu sâu bệnh hại chính, thích hợp điều kiện sinh thái của tỉnh Phú Yên. Khảo nghiệm cơ bản 7 giống sắn triển vọng tại vụ Xuân và vụ Hè trên đất đỏ và đất xám Phú Yên; tuyển chọn 5 giống sắn khảo nghiệm sản xuất Nội dung 3: Xây dựng mô hình trình diễn và chuyển giao công nghệ tại điểm nghiên cứu Đồng Xuân, Sông Hinh, Sơn Hòa tỉnh Phú Yên. Kết quả đã đạt được: Tuyển chọn và xác định được hai giống sắn KM568 và KM537 đáp ứng tốt mục tiêuđề tài;xây dựnghoàn thiện đượcmô hình quy trình mười kỹ thuật canh tác sắn. Giống sắn KM568 là con lai của KM440 x (KM419 x KM539), có năng suất củ tươi đạt 54 tấn/ha; hàm lượng tinh bột đạt 28,4% lúc 10 tháng sau trồng, kháng bệnh CMD cấp 1,5 và kháng bệnh CWBD cấp 1; đạt kiểu hình cây lý tưởng, có 8-14 củ/bụi, thịt củ trắng, cây thẳng, tán gọn, lóng ngắn, ít phân cành, chiều cao cây 2,3-2,7 m. Giống sắn KM537 là con lai của (KM419 xKM539) x KM440, năng suất củ tươi đạt 51,3 tấn/ha; hàm lượng tinh bột đạt 28,5%, kháng bệnh CMD cấp 1,5 và kháng bệnh CWBD cấp 1; đạt kiểu hình cây lý tưởng, có 7-12 củ/bụi, thịt củ trắng; cây thẳng, tán gọn, lóng ngắn, ít phân cành, chiều cao cây 2,5-2,9 m.

Từ khóa: Sắn Phú Yên, DUS và VCU, KM568, KM537, mười kỹ thuật canh tác sắn


1. Giảng viên Cây Lương thực Khoa Nông học, Trường Đại học Nông Lâm thành phố Hồ Chí Minh; Nguyên 3 Phòng Nông nghiệp &PTNT huyện Đồng Xuân, tỉnh Phú Yên;

2. Chuyên gia cây sắn VNCP, Trường Đại học Nông Lâm thành phố Hồ Chí Minh (NLU);

3. Giảng viên Cây Lương thực Khoa Nông học, Trường Đại học Nông Lâm thành phố Hồ Chí Minh;

4. Chi cục Trồng trọt và BVTV tỉnh Phú Yên chủ trì thực hiện phối hợp với Trường Đại học Phú Yên; Phòng Nông nghiệp &PTNT huyện Đồng Xuân, huyện Sông Hinh, huyện Sơn Hòa của tỉnh Phú Yên;

7. Tính trạng đặc trưng (số trong ngoặc tương ứng với số thứ tự tính trạng ở Bảng tính trạng trong Tài liệu hướng dẫn khảo nghiệm; vui lòng đánh dấu mã số phù hợp nhất) xem tiếp Bảo tồn và phát triển sắn – Tình yêu cuộc sống Bài viết về Bảo tồn và phát triển sắn được viết bởi HoangKim, NgocphuongNam hoangkimlong.wordpress.com

https://www2.hcmuaf.edu.vn/contents.php?ids=11790&ur=hoangkim

https://hoangkimlong.wordpress.com/category/len-thai-son-huong-phat/

V

THÁI AN NÚI THÁI SƠN

Thái An là nơi trung tâm quần thể du lịch Thái Sơn. Tôi xách rượu Thái Sơn và khoai lang Hoàng Long (hình) định mang về Trường Đại Học Nông Lâm thành phố Hồ Chí Minh để làm quà cho thầy bạn quý. Trong ảnh phía sau lưng tôi là gốc tùng nơi Hoàng Long và tôi đã nằm ngủ suốt đêm qua ngoài trời vì không thể thuê được nhà trọ. Trung Quốc luật lệ hiện thời yêu cầu khách ngoại quốc phải ngủ ở những khách sạn được phép tiếp nhận người nước ngoài nên người lái xe taxi tuy đã cố gắng chạy lòng vòng tìm kiếm suốt hơn 90 phút nhưng vẫn không thể giúp được. Tôi sau khi lên ga Thái An của đường sắt cao tốc Sơn Đông Bắc Kinh về cửa khẩu sân bay thì món đặc sản quý giá rượu Thái Sơn lại không được mang về. Mặc dầu chúng tôi có đầy đủ phiếu hàng giấy tờ cần thiết nhất để minh chứng rượu được mang đi chứ không phạm lỗi ‘mang chất lỏng lên máy bay’. Tôi đã cố gắng hết sức giải thích tôi là thầy giáo nông học Việt Nam từng tới Sơn Đông từ thuở xưa ba mươi năm trước và nay thăm lại chốn cũ, nhưng vẫn không thể mang rượu về. Tôi đã tặng lại số quà này cho các bạn hải quan ở cửa khẩu bên đó.

Tấm hình này (https://hoangkimlong.wordpress.com/2018/05/29/len-thai-son-huong-phat/) là Giáo sư viện sĩ Zhikang Li nhà di truyền chọn giống cây trồng hàng đầu Trung Quốc, IRRI và Thế giới, nhà khoa học chính của Dự án IRRI Green Super Rice GSR với Phó Giáo sư Tiến sĩ Tian Qing Zheng là Trưởng nhóm nghiên cứu GSR vùng Châu Á và Châu Phi, quản lý nguồn gen lúa gạo GSR của Viện Hàn lâm Khoa học Nông nghiệp Trung Quốc, Bắc Kinh, nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa. Tôi đã tâm đắc nói với thầy Li và thầy Zheng: “Khoai Hoang Long, Lúa Siêu Xanh, Núi Thái Sơn là ba điểm đến yêu thích nhất của tôi tại đất nước Trung Hoa“. “Tôi bắt đầu sự nghiệp nghiên cứu của mình bằng giống khoai Hoàng Long và lấy tên khoai Hoàng Long đặt tên cho con trai Hoang Long của mình. Con trai tôi bắt đầu sự nghiệp của cuộc đời con bằng lúa siêu xanh, học và sau 8 năm làm việc cùng hai Thầy nay đã thành tựu. Hai cha con tôi trước khi về nước sẽ lên núi Thái Sơn hướng Phật đêm trăng rằm Phật Đản 2018 ở đất nước Trung Hoa”.

Thái An núi Thái Sơn, tôi lưu lại hình ảnh và câu chuyện suy ngẫm về chuyến đi lên Thái Sơn hướng Phật, đêm 29/5/2018 Mừng Ngày Phật Đản trên Thái Sơn https://youtu.be/KuAVdK_yIVc; bản gốc đầu tiên đăng tại https://hoangkimlong.wordpress.com/2018/05/29/len-thai-son-huong-phat/ sau phát triển thành https://hoangkimlong.wordpress.com/category/len-thai-son-huong-phat/;

Hoang Long và Giống khoai lang Hoàng Long https://hoangkimlong.wordpress.com/category/giong-khoai-lang-hoang-long/ kết nối phát triển thư mục này: Xưa viết THƠ CHO CON (1) https://hoangkimlong.wordpress.com/category/tho-cho-con/; Giống khoai lang Việt Nam (2) https://hoangkimlong.wordpress.com/category/giong-khoai-lang-viet-nam/; Nay làm Lúa Siêu Xanh (3) https://hoangkimlong.wordpress.com/category/lua-sieu-xanh-viet-nam/; Chọn giống sắn Việt Nam (4) https://hoangkimlong.wordpress.com/category/chon-giong-san-viet-nam/; Hoa Đất (5) Đêm Yên Tử (6) https://hoangkimlong.wordpress.com/category/hoa-dat/; https://hoangkimlong.wordpress.com/category/dem-yen-tu/,

29/5/2018 Mừng ngày lễ Phật Đản
Lên Thái Sơn hướng Phật

HÔP TRÍCH DẪN


6/4/26

Nghiên cứu mới đã làm thay đổi mô hình lâu đời về cách thức thực vật phối hợp phản ứng miễn dịch

 Nghiên cứu mới đã làm thay đổi mô hình lâu đời về cách thức thực vật phối hợp phản ứng miễn dịch

Nguyễn Thị Quỳnh Thuận theo Phys.org

Sự biểu hiện của JISS1 (Jasmonate) được kích hoạt toàn thân do nhiễm trùng. Dấu sao màu trắng chỉ lá bị nhiễm. Hình ảnh được tô màu giả theo cường độ tín hiệu, như được chỉ ra bởi các thanh hiệu chuẩn riêng lẻ. (A) Hoạt động luciferase trong cây JISS1:LUC sau khi bị nhiễm DCavrRpm1, DC, DChrpA hoặc giả dược (MgCl2 ) ở 4:30 hpi. (B) Động lực không gian theo thời gian của hoạt động luciferase trong cây JISS1:LUC sau khi bị nhiễm DCavrRpm1, bắt đầu từ 3 hpi. Hình ảnh ở 3,20 hpi, 3,50 hpi và 4,30 hpi ghi lại sự lan truyền toàn thân của tín hiệu theo thời gian. (C) Các gen Avr khác nhau thể hiện tính đặc hiệu theo thời gian trong việc kích hoạt JISS1:LUC toàn thân; DCavrRpm1 (4 hpi), DCavrRps4 (13:20 hpi) và DCavrRpt2 (15:20 hpi), so với đối chứng DChrpA. Nguồn: Nature Plants (2026). DOI: 10.1038/s41477-025-02178-4

Theo một nghiên cứu mới được công bố trên tạp chí Nature Plants, thực vật huy động hệ thống phòng vệ miễn dịch của chúng sớm hơn nhiều so với những gì các nhà khoa học tin tưởng trong nhiều thập kỷ qua - và thông qua một cơ chế báo hiệu sớm trước đây bị bỏ qua.

Khác với động vật, thực vật bám rễ tại chỗ và không thể huy động các tế bào miễn dịch chuyên biệt hoặc kháng thể, cũng không thể chạy trốn. Thay vào đó, mỗi tế bào phải có khả năng phản ứng lại sự tấn công từ các virus gây bệnh, vi khuẩn, nấm hoặc côn trùng gây hại.

Khi bị tấn công, thực vật nhanh chóng khởi động các phản ứng phòng vệ tại vị trí bị tấn công, nhưng chúng cũng có thể kích hoạt các phản ứng miễn dịch ở các mô xa hơn, chưa bị nhiễm bệnh để bảo vệ phần còn lại của cây, một quá trình được gọi là Khả năng kháng bệnh toàn thân (Systemic Acquired Resistance - SAR).

Trong nhiều thập kỷ, SAR được hiểu là dựa vào phân tử tín hiệu axit salicylic - được hỗ trợ bởi axit N-hydroxypipecolic - để thực hiện và duy trì khả năng bảo vệ miễn dịch lâu dài cho toàn bộ cây. Các phân tử này được tổng hợp sau khi nhiễm bệnh và tích lũy dần trong các mô ở xa không bị nhiễm bệnh.

Nhóm nghiên cứu tại Warwick giờ đây chứng minh rằng trước khi cơ chế phòng vệ tập trung vào axit salicylic này được thiết lập, thực vật đã triển khai một hệ thống giao tiếp nhanh hơn nhiều: một làn sóng tín hiệu miễn dịch phụ thuộc vào jasmonate lan truyền khắp cây chỉ trong vài giờ, khởi phát phản ứng kháng bệnh toàn thân (SAR) rất lâu trước khi các biện pháp cổ điển để xác định SAR được kích hoạt.

"Những gì chúng tôi chứng minh ở đây là khả năng miễn dịch toàn cây được kích hoạt nhanh hơn nhiều so với những gì chúng ta từng nhận ra", giáo sư Murray Grant, Chủ nhiệm Khoa An ninh Lương thực Elizabeth Creak tại Đại học Warwick và là tác giả chính của nghiên cứu, cho biết.

"Hệ thống SAR dựa trên axit salicylic cổ điển vẫn rất quan trọng, nhưng nghiên cứu của chúng tôi hé lộ một hệ thống cảnh báo sớm mới được vận hành bởi jasmonate - các hormone trước đây được cho là có khả năng ức chế phản ứng miễn dịch dựa trên axit salicylic".

"Trong khi quá trình tích lũy axit salicylic có thể mất hơn 24 giờ, tín hiệu phụ thuộc vào jasmonate xuất hiện trong vòng ba đến bốn giờ sau khi nhiễm bệnh, lan nhanh qua các mô biểu bì và mạch dẫn của cây đến các lá không bị nhiễm bệnh. Đây là một bước ngoặt cơ bản trong hiểu biết của chúng ta về cách thức hoạt động của hệ miễn dịch thực vật".

Theo dõi sự lan truyền của hệ miễn dịch trong thời gian thực

Để khám phá giai đoạn SAR sớm ẩn giấu này, các nhà nghiên cứu đã phát triển một chất chỉ thị SAR liên kết jasmonate mới , JISS1:LUC, hoạt động như một công cụ theo dõi phân tử cho sự kích hoạt miễn dịch sớm này. Công cụ này cho phép họ hình dung các tín hiệu miễn dịch di chuyển từ lá bị nhiễm bệnh sang lá không bị nhiễm bệnh trong thời gian thực.

Giai đoạn truyền tín hiệu rất sớm này vẫn còn chưa được biết đến cho đến nay vì hầu hết các phương pháp truyền thống phát hiện phản ứng miễn dịch trong hoặc sau khi hệ thống phòng thủ toàn thân đã được thiết lập đầy đủ, bằng cách đo các dấu ấn phân tử cổ điển hoặc chính SA, rất lâu sau khi các tín hiệu do jasmonate điều khiển này được hình thành.

Kết quả cho thấy cần một chiến lược SAR đa giai đoạn. "Các hợp chất jasmonate gióng lên hồi chuông cảnh báo", tiến sỹ Erin Stroud, Nghiên cứu viên tại Trường Khoa học Sự sống thuộc Đại học Warwick và đồng tác giả chính, giải thích.

"Chúng phối hợp tạo ra một tín hiệu miễn dịch nhanh chóng, linh hoạt, cảnh báo toàn bộ cây rằng sắp có vấn đề xảy ra. Các hợp chất truyền tín hiệu kinh điển như axit salicylic và axit N-hydroxypipecolic sau đó sẽ củng cố và ổn định các cơ chế phòng vệ này để đảm bảo khả năng bảo vệ lâu dài".

Nghiên cứu này cho thấy ngay cả ở những thực vật không thể sản xuất hoặc cảm nhận axit salicylic, làn sóng tín hiệu ban đầu vẫn xảy ra - nhưng phản ứng kháng bệnh toàn thân (SAR) biến mất khi quá trình sinh tổng hợp jasmonate bị gián đoạn. Những thực vật thiếu tín hiệu jasmonate vẫn tạo ra phản ứng miễn dịch cục bộ bình thường đối với nhiễm trùng, nhưng không bảo vệ được lá ở xa, khiến chúng dễ bị nhiễm trùng thứ cấp.

Những khả năng mới trong bảo vệ cây trồng

Thật bất ngờ, nhóm nghiên cứu cũng phát hiện ra rằng tín hiệu jasmonate là cần thiết để hỗ trợ quá trình truyền tín hiệu điện trên toàn cây, tương tự như các tín hiệu trước đây được liên kết với phản ứng khi bị thương và bị động vật ăn cỏ tấn công.

"Những tín hiệu điện này tương tự như những tín hiệu do động vật ăn cỏ tạo ra và đòi hỏi tín hiệu jasmonate hoạt động hiệu quả để cho phép sự truyền thông nhanh chóng ở khoảng cách xa này", tiến sỹ Emily Breeze, trợ lý giáo sư tại Đại học Warwick và đồng tác giả chính cho biết.

"Hệ thống báo cáo JISS1:LUC của chúng tôi là một công cụ tuyệt vời để hình dung sự khởi đầu sớm của phản ứng SAR dựa trên jasmonate trong thời gian thực, chỉ vài giờ sau khi bị tấn công cục bộ. Điều này mang lại cho chúng ta một phương pháp độc đáo để khám phá cách thực vật tích hợp hormone, dòng chảy canxi và tín hiệu điện sinh học để cuối cùng tự bảo vệ mình chống lại các tác nhân xâm lược".

Việc phát hiện ra rằng cả tín hiệu jasmonate và tín hiệu điện đều được tạo ra trong giai đoạn đầu của hệ miễn dịch toàn thân mở ra những khả năng mới cho việc thiết kế cây trồng phản ứng nhanh hơn với nhiễm trùng, hạn chế sự lây lan của bệnh và tổn thất năng suất, đặc biệt trong điều kiện mầm bệnh lây lan nhanh hoặc cây trồng phải đối mặt với nhiều mối đe dọa từ mầm bệnh cùng một lúc.

Giáo sư Grant kết luận: "Công trình này không chỉ định hình lại hiểu biết của chúng ta về hệ thống miễn dịch thực vật, mà việc hiểu rõ các cơ chế tín hiệu SAR phổ biến còn mang lại cho chúng ta một hướng đi độc đáo để thiết kế các chiến lược kỹ thuật sinh học nhằm tạo ra hệ thống phòng vệ cung cấp khả năng kháng bệnh trên diện rộng, thay vì chỉ kháng một loại mầm bệnh cụ thể".

"Cụ thể, việc kích hoạt hệ miễn dịch toàn thân thông qua kích hoạt có điều kiện tín hiệu jasmonate sớm có thể cung cấp một phương pháp mới để giảm thiểu thiệt hại mùa màng do các bệnh nguy hiểm như rỉ sắt, bạc lá và nấm mốc mà không cần sử dụng thuốc trừ sâu hóa học gây hại cho môi trường".

Các nhà khoa học khám phá một công tắc phân tử bảo vệ cây trồng khỏi lạnh giá

Các nhà khoa học khám phá một công tắc phân tử bảo vệ cây trồng khỏi lạnh giá

Trương Thị Tú Anh theo Phys.org

Sự xuất hiện của các cơn lạnh đột ngột có thể đe doạ sự sống của cây trồng, đặc biệt trong những giai đoạn phát triển sớm. Nhưng làm thế nào cây trồng có thể phát hiện nhiệt độ thấp đủ nhanh để kích hoạt những thay đổi giúp chúng sống sót? Các nhà nghiên cứu tại Đại học Quốc gia Chonnam đã nhận diện một công tắc phân tử ẩn có thể nhanh chóng thiết lập lại sự phát triển của rễ để chịu được những điều kiện lạnh bất lợi.

Bài báo này được công bố trên Journal of Integrative Plant Biology. Nghiên cứu được dẫn dắt bởi giáo sư Jungmook Kim, Khoa Năng lượng Sinh học và Kỹ thuật, Đại học Quốc gia Chonnam, cùng với các nhà nghiên cứu Uyen Thu Nguyen, Na Young Kang, và tiến sỹ Dong Wook Lee cũng đến từ ĐH Quốc gia Chonnam.

Nhóm nghiên cứu đã phát hiện ra căng thẳng lạnh kích hoạt sự phân huỷ nhanh chóng các protein auxin/indole acid acetic (Aux/IAA), thường ức chế việc kích hoạt các gen liên quan tới tăng trưởng. Một khi các chất ức chế này bị phá vỡ, các chất điều hoà chính ARF7 và ARF19 được phóng thích, cho phép chúng kích hoạt yếu tố phản ứng cytokin (CRF3), một chất điều hoá chính định hình lại kiến trúc rễ để thích ứng với các điều kiện lạnh.

Giáo sư Kim cho biết: “Căng thẳng lạnh không chỉ đơn giản làm chậm sự phát triển của thực vật – nó tích cực điều chỉnh tín hiệu hóc môn để thích nghi với sự phát triển của rễ”.

Nghiên cứu cũng cho thấy rằng những điều kiện lạnh kích hoạt tín hiệu cytokinin để tạo ra CRF2, họat động cùng với CRF3. Hai gen này hoạt động như là chất tích hợp, kết hợp các tín hiệu môi trường và tín hiệu hóc môn nội bộ để điều chỉnh sự khởi đầu của rễ dưới điều kiện căng thẳng. Điều này cũng xác định rằng các con đường auxin và cytokin hội tụ tại CRFs, hình thành một mô đun phản ứng lạnh thống nhất.

Giáo sư Kim nói thêm rằng: “Thực vật sống sót bởi vì chúng tích hợp căng thẳng bên ngoài với các chương trình phát triển bên trong. Chúng tôi đã nhận diện một trong những công tắc cho phép sự tích hợp đó”.

Những phát hiện này đã nhấn mạnh những cơ hội để bảo vệ cây trồng khỏi sự bất ổn khí hậu ngày càng tăng. Bằng cách tăng cường tín hiệu CRF2/CRF3 hoặc ổn định hoạt động của ARF thông qua việc phân huỷ có mục tiêu các Aux/IAAs, các nhà khoa học có thể phát triển cây trồng mà chúng có khả năng duy trì sự phát triển ổn định của rễ trong đất lạnh.

Những giống cây này có thể cải thiện sự thiết lập phát triển vụ mùa sớm, gia tăng hiệu quả hấp thu dinh dưỡng, và hỗ trợ nông nông nghiệp bền vững với việc giảm sử dụng phân bón. Nghiên cứu này cũng nhấn mạnh tiềm năng phát triển các phân tử tổng hợp hoặc chất kích thích sinh học có thể bảo vệ cây con trong những đợt lạnh cực đoan bất ngờ.

Trong thập kỷ tới, con đường phân tử này có thể giúp cho việc trồng trọt ở những nơi có khí hậu khắc nghiệt, và đóng vai trò nền tảng cho việc chọn tạo giống chính xác và kỹ thuật chỉnh sửa gen dựa trên CRISPR để tạo ra các giống cây trồng thích nghi với khí hậu.

4/4/26

Nguyễn Du Niên Biểu Luận

NGUYỄN DU NIÊN BIỂU LUẬN


Hoàng Kim


Mười lăm năm tuổi thơ (1766-1780)
Mười lăm năm lưu lạc (1781-1796)
Thời Hồng Sơn Liệp Hộ (1797-1802)
Bắc Hành và Truyện Kiều (1802-1820)

Nguyễn Du niên biểu luận là Nguyễn Du và thời thế theo từng năm của 55 năm cuộc đời ông (1766 -1820). Nguyễn Du trăng huyền thoại, Mai Hạc vầng trăng soi góp phần làm sáng tỏ cuộc đời thời thế của ông và hổ trợ thông tin giải mã ẩn ngữ Truyện Kiều và Bắc Hành là hai kiệt tác của Nguyễn Du.

Thiền sư Linh Nhạc Phật Ý tại Tổ Đình Phước Tường Thủ Đức trong giấc mơ lạ “Nguyễn Du nửa đêm đọc lại” khuyên tôi lập “Nguyễn Du niên biểu luận” Nguyễn Du và thời thế để tìm hiểu về Người. Theo vị Thiền sư này thì dấu vết chứng cứ sự thật hàng năm của Nguyễn Du là chỉ dấu đáng tin cậy nhất về những sự kiện trọng yếu trong thời ông. Điều này chi phối quyết định và gợi ý sâu sắc nhất xử thế của bình sinh hành trạng Nguyễn Du. Chúng ta nếu muốn hiểu thật đúng sự thật về Nguyễn Du và Truyện Kiều thì cần có những sự kiện chính yếu của thời thế đàng Trong và đàng Ngoài cùng với các nước liên quan soi vào hệ quy chiếu của chính cuộc đời Nguyễn Du và gia tộc Nguyễn Du làm trung tâm mới thấu hiểu. Đó là phương pháp luận liên ngành tổng hợp với hệ thống thông tin thực sự bổ ích để hiểu đúng ẩn ngữ Truyện Kiều, lịch sử, văn hóa, con người và bối cảnh hình thành kiệt tác”Truyện Thúy Kiều”.
https://hoangkimlong.wordpress.com/2026/01/03/nguyen-du-nien-bieu-luan/

 

2/4/26

Cà phê - hành trình từ tu viện đến thức uống toàn cầu

Cà phê - hành trình từ tu viện đến thức uống toàn cầu

Hơn 5 thế kỷ trước, khi cà phê vẫn là một loại cây trồng bản địa ở vùng Đông Phi, đặc biệt là Ethiopia và Yemen, các tu sĩ Ả Rập theo đạo Sufi (một nhánh của Hồi Giáo) đã sử dụng loại thức uống này với mục đích: giúp giữ cho tinh thần tỉnh táo. Khi ấy, họ uống cà phê để duy trì sự tập trung trong các buổi cầu nguyện xuyên đêm.

Trong lịch sử kéo dài hàng thế kỷ, cà phê không chỉ đơn thuần là một thức uống, mà còn là một công cụ để xây dựng đế chế, thúc đẩy cách mạng công nghiệp và nhiều thứ khác. Và sau đây là 5 sự kiện nổi bật gắn liền với cà phê.

Cà phê bắt đầu xuất hiện ở châu Âu từ TK 17, khi thức uống này dần trở nên phổ biến, các đế quốc cũng nhanh chóng nhận ra rằng họ có thể tự sản xuất cà phê bằng cách tận dụng nguồn lao động từ nông dân và nô lệ tại các vùng thuộc địa xa xôi. Đến TK 18, nhiều quốc gia như Anh, Tây Ban Nha, Pháp, Bồ Đào Nha và Hà Lan đã biến cà phê thành một trong những cây trồng chủ lực trong thương mại, sánh ngang với đường, bông và thuốc lá.

Từ Indonesia đến Mỹ Latin và Caribe, những người lao động bị bắt làm nô lệ để đến các đồn điền trồng cà phê. Theo thống kê vào cuối những năm 1700, thuộc địa Saint Domingue của Pháp ở vùng Caribe từng sản xuất ⅔ sản lượng cà phê toàn cầu. Sau này, cách mạng Haiti bùng nổ vào năm 1791 đã làm các đồn điền bị thiêu rụi và khiến nhiều chủ sở hữu đồn điền thiệt mạng.

Về sau, người Bồ Đào Nha đã biến Brazil trở thành nhà sản xuất cà phê lớn nhất thế giới. Brazil là quốc gia đưa số lượng nô lệ đến Tân Thế giới nhiều nhất và cũng là nước cuối cùng ở Tây bán cầu bãi bỏ chế độ nô lệ vào năm 1888. Thậm chí vào những năm 1880, khi đối diện với các dự luật trao quyền tự do cho con cái của nô lệ, một nghị sĩ Brazil bên phe phản đối còn từng tuyên bố: “Brazil là cà phê và cà phê là người da đen.”

Các quán cà phê đầu tiên được cho là xuất hiện ở Đế chế Ottoman, nơi những người Hồi giáo, những người kiêng rượu, có được một nơi để tụ tập ngoài các quán rượu. Qua nhiều thế kỷ, quán cà phê trở thành “không gian công cộng”, nơi mà không chỉ giới tinh hoa mà mọi tầng lớp trong xã hội đều có thể đến gặp gỡ và trao đổi với nhau.

Từ TK 16, người Thổ Nhĩ Kỳ Ottoman đã mang cà phê đi truyền bá khắp nơi, cho những người Hồi giáo và sau đó là đến châu Âu. Đã từng có thời kỳ, quán cà phê là nơi để đàn ông có thể tụ tập và thảo luận về tin tức, tôn giáo, chính trị, mà không bị các nhà chức trách giám sát. Châu Âu từng tìm cách cấm các quán cà phê, nhưng lệnh cấm này nhanh chóng bị dỡ bỏ bởi sự phản đối dữ dội từ công chúng.

Tại châu Âu, quán cà phê trở thành “cái nôi” cho nhiều ý tưởng kinh tế và chính trị mới. Sàn giao dịch chứng khoán London, hãng bảo hiểm Lloyd’s of London và Công ty Đông Ấn đều bắt nguồn từ các quán cà phê. Ở London, chúng thậm chí còn được gọi là “đại học một xu” vì chỉ cần mua một tách cà phê là bạn đã có thể tham gia vào những cuộc tranh luận học thuật sôi nổi.

Ở châu Mỹ thuộc địa, quán Green Dragon Tavern và quán cà phê ở Boston nổi tiếng là nơi các nhà lãnh đạo của Sons of Liberty bí mật gặp gỡ để bàn kế hoạch cho sự kiện “tiệc trà Boston” năm 1773, khởi đầu cho cuộc chiến tranh giành độc lập Mỹ.

Vào TK 18 ở Anh, khi cách mạng công nghiệp bùng nổ, công nhân trong các nhà máy đã uống cà phê để có thể tỉnh táo làm việc suốt ngày đêm. Với công dụng giúp tỉnh, tăng tập trung, cà phê đã “biến đổi” nhịp sinh học vốn dựa vào ánh sáng mặt trời của con người thành giờ đồng hồ. Trong các ngành sản xuất cần vận hành liên tục, công nhân chỉ cần vài tách cà phê để duy trì năng lượng, tiếp tục duy trì sự tỉnh táo để làm việc. Nhờ đó mà hoạt động công nghiệp có thể diễn ra liên tục và phát triển.

ca-phe-30.jpg
Nhà nghiên cứu Mark Pendergrast từng viết trong quyển “Uncommon Grounds: The History of Coffee and How It Transformed Our World” rằng: “Thức thức uống của giới quý tộc, cà phê đã trở thành thứ ”ma t.uý gây cần thiết" của quần chúng, cà phê sáng đã thay thế súp và bia trong buổi sáng của mọi người."

Cà phê hoà tan là một loại đồ uống từ hạt cà phê đã ủ, cho phép mọi người có thể pha chế 1 cách nhanh chóng bằng cách thêm nước nóng và khuấy đều. Ưu điểm của cà phê hoà tan là pha chế rất nhanh, khối lượng và trọng lượng vận chuyển cũng thấp hơn so với cà phê hạt hoặc cà phê xay. Nếu được bảo quản đúng cách, cà phê hoà tan có thời hạn sử dụng lâu hơn so với cà phê rang thông thường. Đổi lại, cà phê hoà tan thường bị đánh giá kém về hương vị và chất lượng. Cà phê hoà tan cũng không đòi hỏi công việc dọn dẹp vì không tạo ra bã cà phê.

Khi nhà phát minh người Mỹ George CL Washington tìm được cách sản xuất cà phê hoà tan hàng loạt và cung cấp cho quân đội, nó bắt đầu trở thành thức uống phổ biến của các binh sĩ thời ấy. Vào thời Nội chiến Mỹ, cà phê đã hoàn toàn ăn sâu vào chế độ ăn uống của người Mỹ. Trên thực tế, nó đã được đưa vào khẩu phần ăn tiêu chuẩn của quân đội bắt đầu từ năm 1832.

Một binh sĩ Mỹ đã từng viết từ chiến trường vào năm 1918 rằng: “Dù có chuột, mưa, bùn hay tiếng gầm của đại bác và tiếng rít của đạn, tôi vẫn cảm thấy vui, chỉ mất một phút để đun nước trên chiếc bếp dầu nhỏ và pha một tách cà phê George Washington.” Khi đó lính Mỹ gọi cà phê hoà tan là “a cup of George”. Trong Thế chiến thứ II, những người lính lại đổi cách gọi sang “cuppa Joe”.

Từ năm 1941, quân đội đã đặt mua 140.000 bao hạt cà phê mỗi tháng, gấp 10 lần năm trước đó, để sản xuất cà phê hoà tan. Sau chiến tranh, các hãng như Nescafe và Maxwell House đã tận dụng cơ hội ra mắt sản phẩm cà phê hoà tan cho các cựu chiến binh, gia đình họ và người dân - những người vốn đã từng rất tò mò hương vị cà phê hoà tan mà những người lính hay dùng. Sau đó, chính sự tiện lợi của cà phê hoà tan đã khiến nó ngày càng trở nên phổ biến khắp toàn thế giới.

Starbucks có thể được xem là thương hiệu cà phê phổ biến nhất trên thế giới. Nhưng thương hiệu này có lẽ đã không thể tồn tại nếu như Howard Schultz, giám đốc marketing của công ty (lúc đó nó chỉ là nhà rang hạt cà phê lớn nhất bang Washington) không có chuyến đi đến Milan, nước Ý vào năm 1983.

Trong chuyến đi đó, Schultz đã bị cuốn hút bởi hàng trăm quán cà phê espresso, nơi các barista vừa pha chế những món thức uống như latte, cappucino vừa trò chuyện với khách hàng bên quầy pha chế. Trở về Mỹ, ông đã thuyết phục ban lãnh đạo thử mở quán espresso bar, bán những món thức uống theo kiểu Ý nhưng 3 người chủ khi đó là Jerry Baldwin,Zev Siegl,Gordon Bowker đều từ chối.

Năm 1985, Schultz rời Starbucks, lập ra công ty II Giornale để theo đuổi mong muốn của mình. Để tự mở quán cà phê đầu tiên có tên II Giornale, Howard Schultz đã phải tìm đủ mọi cách để huy động nguồn vốn. Đến năm 1987, khi Starbucks rao bán lại công ty, Schultz đã mua lại chuỗi 6 cửa hàng và xưởng rang. Ông ngay lập tức áp dụng mô hình cà phê kiểu Ý, cải tiến bộ máy hoạt động,… Khi đó, ông chỉ đặt ra mục tiêu mở 125 quán trong vòng 5 năm.

Tuy nhiên, kết quả vượt xa mong đợi khi đến năm 2020, Starbucks sở hữu gần 9000 cửa hàng tại Mỹ, 6.500 cửa hàng nhượng quyền và hơn 30.000 cửa hàng trên khắp thế giới. Một số người cho rằng chính Starbucks đã góp phần vào sự phát triển của văn hoá quán cà phê, thúc đẩy mọi người ra tụ họp và kết nối nhiều hơn.

 

Khi nào nhà khoa học trở thành doanh nhân?

 Khi nào nhà khoa học trở thành doanh nhân?

Thanh Nhàn - KHPT

Các cơ chế chính sách mới đang mở ra cơ hội cho những nhà khoa học có sáng chế, có công nghệ mới trở thành doanh nhân. Tuy vậy trên thực tế, điều này có dễ thực hiện ở Việt Nam?

Trước năm 2020, cái tên BioNTech vô cùng xa lạ, một công ty chuyên về công nghệ sinh học nằm đâu đó trong số hàng triệu triệu công ty cùng lĩnh vực trên toàn cầu. Nhưng chính công ty vô danh được thành lập vào năm 2008 này đã góp phần tạo ra vaccine dựa trên công nghệ mRNA của Pfizer. Kết quả đó của BioNTech dựa trên nghiên cứu của các nhà khoa học Uğur Şahin, Özlem Türeci, và Christoph Huber khi nhận được khoản đầu tư hạt giống là 180 triệu Euro từ công ty đầu tư mạo hiểm MIG Capital. Sau đó, vào năm 2013, nhà hóa sinh Katalin Karikó, chủ nhân giải thưởng Nobel Y học 2023, gia nhập BioNTech với tư cách là Phó chủ tịch cấp cao.

Nếu các khoản đầu tư sau này của Pfizer và Chính phủ Mỹ đã biến giấc mơ tạo ra loại vaccine chống đại dịch thành hiện thực trong khoảng thời gian ngắn chưa từng có trong lịch sử thì chính những kiến thức khoa học và bí quyết công nghệ tích lũy hàng thập kỷ là nền tảng cho liệu pháp miễn dịch tiên tiến này. Những know-how độc quyền đó đã đưa các nhà khoa học như Katalin Karikó hay Uğur Şahin, Özlem Türeci trở thành doanh nhân triệu phú sau khi đem lại những sản phẩm vô cùng có ý nghĩa với con người.

Đó là cách KH&CN tạo được tác động xã hội mà nhiều nhà quản lý khoa học Việt Nam vẫn hằng mơ ước. “Thực ra, khoa học chỉ có một cách duy nhất để tạo nguồn thu là thương mại hóa kết quả nghiên cứu mà thương mại hóa không có gì tốt hơn là cho phép họ được lập doanh nghiệp, để chuyển giao chất xám của mình hoặc dùng chất xám đó để mua cổ phần của doanh nghiệp dưới dạng cổ phần hoặc dùng luôn kết quả đó lập doanh nghiệp spinoff”, TS. Nguyễn Quân, nguyên Bộ trưởng Bộ KH&CN chia sẻ với báo Khoa học và phát triển vào năm 2023. “Thậm chí sau khi hoạt động tốt rồi, người ta có thể bán doanh nghiệp đó rồi quay đi nghiên cứu vấn đề khác, có thể lập một doanh nghiệp mới. Các giáo sư nước ngoài đều làm như thế cả. Họ lập doanh nghiệp, nếu đưa doanh nghiệp lên sàn chứng khoán thì có thể thu được gấp nhiều lần số tiền đầu tư, lấy tiền quay trở lại làm nghiên cứu khác”.

Vậy các nhà khoa học Việt Nam có cơ hội làm được điều tương tự? họ có khả năng trở thành doanh nhân ngay trên đất nước mình? Câu trả lời phức tạp hơn người ta tưởng.

Gợi ý gì từ chính sách mới?

Vào tháng 10 vừa qua, một loạt những nghị định mới ra đời với tốc độ nhanh chưa từng có – chỉ năm tháng sau khi Luật KH&CN, đổi mới sáng tạo được Quốc hội thông qua. Nhịp độ gấp rút, sôi nổi của việc xây dựng những văn bản quy phạm pháp luật hướng dẫn các hoạt động KH&CN, theo tinh thần chỉ đạo “làm ngày làm đêm”, “vừa chạy vừa xếp hàng”, “chỉ bàn làm, không bàn lùi”, khiến các nhà khoa học, vốn chỉ quen với quá trình xây dựng và thảo luận chính sách rất kỹ lưỡng, cũng cảm thấy ngỡ ngàng. Theo cách đó, các nghị định hướng dẫn và quy định chi tiết một số điều của Luật KH&CN, đổi mới sáng tạo như Nghị định 263/2025/NĐ-CP, Nghị định 267/2025/NĐ-CP, Nghị định 271/2025/NĐ-CP đã mở ra những cánh cửa vô cùng khác biệt, những hành lang hướng dẫn vừa đơn sơ vừa phức tạp, tỏa đi nhiều hướng để tìm cách liên thông thế giới này với xã hội.

Nghị định 271 đã góp phần vào việc tháo gỡ một nút thắt mà bấy lâu các nhà khoa học và quản lý khoa học vẫn lúng túng - xử lý tài sản hình thành sau đề tài KH&CN, dự án R&D có kinh phí từ ngân sách nhà nước. Tuy nhiên, việc cởi bỏ này đã đủ đáp ứng những gì thực tiễn cần, hay nói cách khác là “khuyến khích tinh thần doanh nghiệp của nhà khoa học và tinh thần khoa học của doanh nhân” không?

Nếu hai nghị định 263 và 267 bàn đến các nội dung đã được thảo luận khá nhiều ở Việt Nam, khi tập trung vào các vấn đề tài chính khoa học, quản lý các nhiệm vụ KH&CN, cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm, nhân lực, nhân tài và giải thưởng KH&CN..., thì Nghị định 271 đề cập tới góp vốn công nghệ, một khái niệm mới trong không gian trường đại học, viện nghiên cứu. Văn bản này cho phép trường, viện hoặc nhà khoa học có thể công khai góp vốn bằng công nghệ vào một doanh nghiệp hoặc thậm chí tự lập một doanh nghiệp bằng chính công nghệ mình làm ra, ngay cả khi công nghệ ấy là sản phẩm hình thành từ đề tài KH&CN có kinh phí từ ngân sách nhà nước. Sau khi đã xác lập quyền sở hữu cho nhà khoa học trong Luật Sở hữu trí tuệ và dự án Luật Chuyển giao công nghệ, cùng với Nghị định 271, nhà khoa học có thể trở thành doanh nhân, công khai và trực tiếp đưa các sản phẩm nghiên cứu vào ứng dụng thực tiễn.

Đây chính khái niệm mà những người làm khoa học và cả những người làm quản lý khoa học từng đề cập tới nhiều lần nhưng giờ mới được pháp luật chính thức công nhận. Cách đây đúng 10 năm, tại tọa đàm “Những doanh nhân tiên phong công nghệ sáng tạo trên trang báo Tia Sáng” do Trung tâm Nghiên cứu kinh doanh và Hỗ trợ doanh nghiệp (BSA) tổ chức tại Triển lãm Giảng Võ (Hà Nội), TS. Nguyễn Quân đã chia sẻ “Để tồn tại, doanh nghiệp cần có hai yếu tố, tinh thần doanh nhân và tinh thần công nghệ. Chính sự đóng góp của các doanh nghiệp đã góp phần mở rộng ứng dụng KH&CN vào thực tiễn. Vì vậy, để KH&CN Việt Nam giữ được vị trí thứ ba trong khối ASEAN, không chỉ phụ thuộc vào cộng đồng khoa học mà còn vào cả cộng đồng doanh nghiệp, với những doanh nhân có tinh thần công nghệ. Bộ KH&CN sẽ cố gắng tạo ra cơ chế thông thoáng nhất để doanh nghiệp phát huy được tinh thần này.”

Mất một thập kỷ, sau khi được Nghị quyết 57 và Nghị quyết 68 của Bộ Chính trị mở đường, ý tưởng khuyến khích tinh thần doanh nghiệp của nhà khoa học và tinh thần công nghệ ở doanh nhân mới có cơ hội trở thành hiện thực. Trong nhiều cuộc hội thảo lớn nhỏ, nhiều nhà khoa học đã từng cho rằng cần phải có những đổi mới chính sách để thúc đẩy chuyển giao công nghệ và chuyển giao tri thức tới xã hội. TS Trịnh Thành Trung (Viện Vi sinh vật và Công nghệ sinh học, ĐHQGHN) đã không ngần ngại đề cập đến điều này trong cuộc họp về xử lý tài sản hình thành sau nhiệm vụ KH&CN được thực hiện bằng ngân sách nhà nước ở Bộ KH&CN vào tháng 12/2023 “Trong thời gian qua, chúng ta nghe thấy rất nhiều cụm từ ‘kinh tế tri thức’. Vậy tri thức từ đâu? Dĩ nhiên phải từ KH&CN. Nhà khoa học tập trung vào nghiên cứu và tạo ra bài báo khoa học, quy trình công nghệ, cả hai đều là tri thức và chúng ta áp dụng tri thức đấy vào trong sản xuất kinh doanh và tạo ra tiền thì lúc đó mới gọi là kinh tế tri thức”.

Rõ ràng, điều mà những nhà khoa học như TS. Trịnh Thành Trung mong muốn là có những cơ chế chính sách phù hợp để biến tri thức, know-how ở phòng thí nghiệm thành sản phẩm thực, đem lại doanh thu trong thế giới thực.

Những sản phẩm tri thức và tài sản trí tuệ này rút cục đã được nhắc đến một cách trực tiếp trong Nghị định 271. Cụ thể hơn, văn bản này đã xác nhận vốn trí tuệ (intellectual capital) nói chung và vốn công nghệ (technical capital) nói riêng từ khu vực công là các trường viện có thể chuyển giao được và được coi là một dạng vốn đặc biệt để tạo dựng một doanh nghiệp mới. Cùng với việc sửa đổi Luật Chuyển giao công nghệ để công nhận quyền sở hữu công nghệ - sản phẩm thu được từ quá trình thực hiện các nhiệm vụ KH&CN với kinh phí từ ngân sách nhà nước – thuộc về trường viện cũng như nhà nghiên cứu, Nghị định 271 được kỳ vọng sẽ đem lại một bước thay đổi ngoạn mục, khơi thông dòng chảy công nghệ từ trường viện ra ngoài xã hội.

Việc công nhận này đã đặt cơ sở để chuyển giao, góp vốn các kết quả nghiên cứu từ đề tài, dự án KH&CN được thực hiện bằng kinh phí từ ngân sách nhà nước, vốn được coi là tài sản công, một khi được xác định giá trị tài sản công khai, minh bạch. Do đó, Nghị định 271 dành hẳn một chương để quy định các loại tài sản góp vốn cũng như cách xác định giá trị tài sản góp vốn (dựa trên quy định pháp luật về thẩm định giá, sở hữu trí tuệ, luật KH&CN, đổi mới sáng tạo...). Điều này làm chúng ta không khỏi liên hệ với Luật Chuyển giao công nghệ - Luật này coi góp vốn bằng công nghệ là một hình thức chuyển giao công nghệ. “Góp vốn bằng công nghệ là một hình thức chuyển giao công nghệ hợp pháp. Trường hợp dự án đầu tư có sử dụng vốn nhà nước thì công nghệ góp vốn phải được thẩm định giá theo quy định của pháp luật. Điều này nhằm bảo đảm tài sản công nghệ được định giá chính xác, tránh thất thoát vốn nhà nước”, luật sư Nguyễn Văn Phúc, Công ty Luật HM&P, nêu trong tạp chí Luật sư Việt Nam.

Đến thời điểm này, vẫn còn chưa rõ cuộc sửa đổi Luật Chuyển giao công nghệ đang diễn ra có đem lại nhiều quy định thuận lợi để thúc đẩy hoạt động chuyển giao công nghệ cũng như góp vốn tri thức, vốn công nghệ từ trường viện không song rõ ràng, Nghị định 271 đã góp phần vào việc tháo gỡ một nút thắt mà bấy lâu các nhà khoa học và quản lý khoa học vẫn lúng túng – xử lý tài sản hình thành sau đề tài KH&CN, dự án R&D có kinh phí từ ngân sách nhà nước.

Tuy nhiên, việc cởi bỏ này đã đủ đáp ứng những gì thực tiễn cần, hay nói cách khác là “khuyến khích tinh thần doanh nghiệp của nhà khoa học và tinh thần khoa học của doanh nhân” không? Quá trình chuyển giao công nghệ, tri thức theo cách này thực ra cần những điều kiện gì nữa?

Vẫn còn nhiều khoảng trống

Nhìn ở góc độ tích cực có thể thấy, những triển vọng tươi sáng đang được gợi mở từ các cơ chế, chính sách mới như Luật KH&CN, đổi mới sáng tạo cũng như các nghị định hướng dẫn thực thi luật, trong đó có Nghị định 271. Với sự thay đổi này, Việt Nam mới có điều kiện để hướng tới việc bước vào quỹ đạo thành công của nhiều cường quốc, khi khai thác được hiệu quả tài sản trí tuệ, công nghệ từ trường, viện. Thực tế cho thấy, tại Mỹ, trước khi ban hành Luật Bayh–Dole được thông qua, Mỹ đã tắc nghẽn mạch chuyển giao công nghệ, khiến cho chỉ chưa đầy 5% trong tổng số hơn 28.000 bằng sáng chế được cấp phép thương mại. Luật Bayh- Dole đã cho phép các trường đại học giữ quyền sở hữu các phát minh do các nhà nghiên cứu của trường có được từ các dự án sử dụng nguồn tài trợ từ chính phủ, trong khi trước đây buộc các nhà khoa học (bất kể họ làm việc ở đâu) phải chuyển giao quyền sở hữu kết quả nghiên cứu cho chính phủ

Chỉ có nhà khoa học làm ra công nghệ mới có đủ năng lực làm chủ được cái công nghệ ấy hoặc giải quyết được những vấn đề nó vấp phải, còn để cho người khác dùng sản phẩm công nghệ đó kinh doanh sản xuất thì có thể thất bại. Đó là lý do mà các nhà khoa học nước ngoài muốn tự mình làm doanh nghiệp.

TS. Nguyễn Quân

Liệu những cơ chế chính sách mới, đặc biệt là những văn bản được soạn thảo một cách nhanh chóng, có thể làm được điều mà đạo Luật Bayh- Dole đã làm không? Xác lập ngay một câu trả lời, e rằng quá sớm nhưng dựa trên những vấn đề cốt lõi của chuyển giao công nghệ như định giá tài sản trí tuệ/công nghệ mới, góp vốn, thoái vốn, tổ chức hỗ trợ chuyển giao (TTO), bảo hộ tài sản trí tuệ... và đặt nó vào bối cảnh chung ở Việt Nam thì có thể thấy, còn có rất nhiều khoảng trống quy định đang tồn tại, có nguy cơ làm giảm hiệu quả của chính sách mới được thiết kế và thông qua.

Khoảng trống đầu tiên nằm ở chính bối cảnh Việt Nam. Nhìn rộng ra thì trước đây, quá trình góp vốn vốn bằng tài sản trí tuệ đã diễn ra từ lâu. “Việc góp vốn, liên doanh bằng tài sản trí tuệ (chủ yếu là góp vốn bằng thương hiệu) diễn ra khá sôi động, đi trước các quy định của pháp luật. Từ những năm 1990, các tập đoàn đa quốc gia đã tiếp cận thị trường Việt Nam thông qua việc liên doanh, liên kết, mua bán, sáp nhập với các doanh nghiệp trong nước”, nghiên cứu sinh Lê Minh Thái (Hutech) viết trên tạp chí Kinh tế tài chính. Tuy nhiên, các “doanh nghiệp Việt thường chỉ chú ý vào giá trị quyền sử dụng đất và các tài sản hữu hình mà chưa chú ý đến các tài sản vô hình như tài sản trí tuệ”. Hệ quả là “việc xác định giá trị, nhượng quyền sử dụng tài sản trí tuệ, góp vốn liên doanh, liên kết… bằng giá trị tài sản trí tuệ đối với các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế ở Việt Nam đến nay vẫn còn là một khoảng trống”.

Từ bối cảnh chung này mà việc áp dụng khái niệm góp vốn trí tuệ, hay vốn công nghệ, trong thực tế không hề dễ dàng, kể cả doanh nghiệp lẫn nhà khoa học. Luật sư Nguyễn Văn Phúc, từ kinh nghiệm từng thực hiện thành công nhiều thương vụ mua bán sáp nhập công ty quy mô lớn, đã chỉ ra bốn khó khăn của góp vốn công nghệ, một hoạt động chịu sự chi phối của ba luật (Luật Doanh nghiệp, Luật Sở hữu trí tuệ và Luật Chuyển giao công nghệ) trên tạp chí Luật sư Việt Nam, đó là: 1) khó khăn trong định giá công nghệ: Khác với tài sản hữu hình có thị trường rõ ràng, tài sản công nghệ thường khó xác định giá trị do không có giá thị trường sẵn có và giá trị phụ thuộc nhiều vào khả năng ứng dụng tương lai. “Việc định giá công nghệ, tài sản trí tuệ để góp vốn gặp nhiều thách thức: thiếu phương pháp chuẩn, kết quả dễ dao động giữa các hội đồng định giá, rủi ro định giá sai gây thiệt hại và tranh chấp về sau. Đây là rào cản lớn ảnh hưởng trực tiếp đến việc xác định tỷ lệ cổ phần của người góp vốn bằng công nghệ trong doanh nghiệp”; 2) Khung pháp lý còn nhiều lỗ hổng và chưa đồng bộ. “Việc thiếu các quy định chi tiết về điều kiện chuyển quyền, thời điểm ghi nhận vốn, xử lý khi quyền công nghệ hết hiệu lực đã gây khó khăn cho doanh nghiệp trong việc tuân thủ pháp luật và bảo vệ quyền lợi các bên; 3) Các thủ tục hành chính phức tạp, kéo dài; 4) Vướng mắc liên quan tới tài chính, thuế, kiểm toán.

Dưới góc độ luật pháp, đặc biệt là Luật Sở hữu trí tuệ, vấn đề góp vốn, phân chia lợi ích và thoái vốn công nghệ/vốn trí tuệ ở một công ty sẽ còn ẩn chứa rất nhiều phức tạp và hệ lụy liên quan đến bảo hộ tài sản trí tuệ mà chúng ta sẽ cùng bàn đến một cách thấu đáo trong một bài viết khác. Một ví dụ điển hình là hai thập niên trước, một vụ kiện kéo dài năm năm làm rúng động thế giới khoa học giữa công ty Nhật Bản Nichia và nhà phát minh đèn LED Shuji Nakamura, người về sau đoạt giải Nobel Vật lý năm 2014 cùng Isamu Akasaki và Hiroshi Amano, cuối cùng đã kết thúc với việc Nakamura nhận được 840 triệu Yên (tương đương 8,1 triệu USD), một số tiền chỉ đủ để trang trải chi phí pháp lý mà ông phải chịu.

Những khó khăn trong quá trình góp vốn thành lập công ty hoặc tham gia thành lập công ty, với nhà khoa học chưa phải là những khó khăn cuối cùng. Quá trình đưa một công nghệ mới vào vận hành trong dây truyền sản xuất ở thế giới thực có thể gặp muôn vàn trắc trở mà ngay cả quy mô sản xuất thử nghiệm (pilot) cũng không hình dung hết. “Chỉ có nhà khoa học làm ra công nghệ mới có đủ năng lực làm chủ được cái công nghệ ấy hoặc giải quyết được những vấn đề nó vấp phải, còn để cho người khác dùng sản phẩm công nghệ đó kinh doanh sản xuất thì có thể thất bại. Đó là lý do mà các nhà khoa học nước ngoài muốn tự mình làm doanh nghiệp”, TS. Nguyễn Quân giải thích về khó khăn phổ biến của quá trình đưa công nghệ mới, công nghệ tiên phong vào thực tế.

Đây là điều hết sức phổ biến trong chuyển giao công nghệ trong và ngoài nước. Tại hội nghị “Phát triển thị trường KH&CN đồng bộ, hiệu quả, hiện đại và hội nhập”, do Thủ tướng Phạm Minh Chính chủ trì vào tháng 9/2022, giáo sư Châu Văn Minh, Viện trưởng Viện Hàn lâm KH&CN Việt Nam, cũng cho rằng, “Về chủ trương chung, Nhà nước ta rất khuyến khích phát triển doanh nghiệp đổi mới sáng tạo” để thương mại hóa sản phẩm nghiên cứu từ viện, trường. Một trong những cách làm phổ biến trên thế giới là thành lập công ty spinoff, loại công ty “thông thường gắn chặt với tác giả tạo ra công nghệ”. Lý giải nguyên nhân tại sao rất hiếm nhà khoa học Việt Nam lập công ty spinoff, GS. Châu Văn Minh nói “đặc thù của loại hình này có tính rủi ro cao (thường chỉ 3-5% thành công), có thể không thành công nhiều lần và. Sau khi thất bại, các nhà khoa học này rất khó có thể quay trở lại con đường nghiên cứu khoa học của mình vì nhiều lý do khác nhau. Trong khi đó, hiện nay chưa có chính sách đảm bảo việc sử dụng các nhà khoa học khi triển khai doanh nghiệp đổi mới sáng tạo không thành công”. Lý do ở đây là các nhà khoa học trong trường viện phần lớn đều là viên chức lao động với các chế độ thụ hưởng đều theo bậc lương nhà nước. Việc họ rời đi tới các doanh nghiệp làm việc có nghĩa họ bị cắt biên chế, bị loại khỏi bộ máy nhân sự trường, viện và mất hết các chế độ này.

Con đường trở về với nghiên cứu của nhà khoa học, một khi thất bại, là một câu hỏi mở và chưa được đề cập đến trong các văn bản quy định, hướng dẫn. Ngay cả trong Nghị định 271 vẫn mặc nhiên coi góp vốn công nghệ là con đường một chiều đến thành công, bất chấp nhiều rào cản trước một công nghệ tiên phong.Việc không có đường lùi cho nhà khoa học, dù ở góc độ thất bại hoặc ở góc độ công ty được mua bán sáp nhập bởi các doanh nghiệp lớn, hoặc đơn giản là vì muốn tiếp tục phát triển những ý tưởng công nghệ hoàn toàn mới, khiến cho họ cảm nhận được là việc góp vốn công nghệ chỉ có một đường thẳng tiến. Một phần vì vậy mà “các nhà khoa học còn chưa mạnh dạn dấn thân vào con đường thương mại hóa và các kết quả nghiên cứu vẫn chưa được đưa vào thực tế ứng dụng”, GS. Châu Văn Minh nói.

Không chỉ thiếu những quy định về thoái vốn công nghệ cho nhà khoa học trong một công ty KH&CN mà ngay cả việc hướng dẫn xây dựng đề án thành lập, tham gia thành lập doanh nghiệp, tham gia góp vốn vào doanh nghiệp của Nghị định 271 vẫn còn chưa đầy đủ, mặc dù nghị định đã dành hẳn một chương để đề cập đến vấn đề này. “Khi đọc nghị định, tôi cũng cảm thấy không rõ là cả nhà khoa học lẫn doanh nghiệp sẽ hiểu và thực hiện hướng dẫn như thế nào”, một nhà quản lý khoa học nhiều kinh nghiệm cho biết. “Nói một cách ngắn gọn thì có nhiều điểm ảnh hưởng đến tính khả thi của văn bản hướng dẫn”.

Thực tế thì phong phú và đa dạng với rất nhiều tình huống khác nhau có thể xảy ra mà chúng ta có thể chưa quen thuộc, đặc biệt là thực tế công nghệ. Vì vậy những hành lang pháp lý mới mẻ hướng dẫn chuyển giao công nghệ/góp vốn công nghệ trong không gian trường viện vẫn cần đến việc sửa đổi và bổ sung cho hoàn thiện Luật Chuyển giao công nghệ, một bộ khung có thể đem lại những công cụ trám vào lỗ hổng chính sách của những văn bản trước.

Đó là điều mà cộng đồng khoa học và những nhà quản lý khoa học tâm huyết mong đợi. Việc có sự hướng dẫn và hỗ trợ pháp lý đầy đủ sẽ là cách để khai thác tốt nhất know-how, bí quyết công nghệ trong trái tim và khối óc của họ, nhất là khi họ nắm giữ không chỉ độc nhất một bí quyết. Có thể nhìn vào trường hợp Shuji Nakamura, người đến tháng 5/2020 nắm giữ 208 bằng sáng chế tiện ích, đã cùng với các giáo sư khác ở ĐH California ở Santa Barbara vào năm 2008 thành lập Soraa, một công ty phát triển công nghệ chiếu sáng thể rắn trên nền gali nitride nguyên chất; vào năm 2022 đồng sáng lập Blue Laser Fusion, một công ty tổng hợp thương mại, với Hiroaki Ohta, cựu Chủ tịch của nhà sản xuất máy bay không người lái ACSL và vào tháng 7/2023, huy động được 25 triệu USD từ Công ty Đầu tư mạo hiểm JAFCO Group và Mirai Creation Fund.

***

Như người ta thường nói “quả ở đây nhưng nhân lại ở chỗ khác”. Những cuộc ra mắt công ty hào nhoáng hay những màn thông báo rầm rộ về mức huy động vốn mới chỉ phản ánh cái dễ thấy bề mặt của câu chuyện góp vốn công nghệ/chuyển giao công nghệ. Trong khi đó, làm nên thành công cho nó đòi hỏi sự hoàn thiện của hệ sinh thái đổi mới sáng tạo, hệ sinh thái thị trường KH&CN, vai trò của các trung tâm chuyển giao công nghệ (TTO) trong trường, viện, mối quan hệ hợp tác chặt chẽ giữa trường, viện/nhà khoa học với doanh nghiệp, sự đầu tư đúng và đủ về kinh phí lẫn hệ thống cơ sở vật chất, và sự sẵn sàng của vốn con người được chăm chút đủ tốt (trong trường hợp này chính là nguồn nhân lực KH&CN chất lượng cao trong trường viện)...

Nếu đơn thương độc mã, những nhà khoa học như Katalin Karikó hay Shuji Nakamura không bao giờ có thể tạo nên đột phá trong nghiên cứu, chưa nói đến việc chủ động lập công ty, đưa kết quả nghiên cứu thành sản phẩm có giá trị cho xã hội và rút cục trở thành những doanh nhân triệu đô. Bởi xét cho cùng, việc khai thác vốn trí tuệ/vốn công nghệ không phải là cuộc vận động đơn độc của nhà nghiên cứu.

Người theo dõi

Mời bạn cùng lên đường!

Mời bạn cùng lên đường!