17/08/2009

Tăng hiệu quả kinh tế vườn trong Tam Nông



GS.TS.Nguyễn Văn Luật, TS. Lê Văn Bảnh

(Hội thảo Tăng hiệu quả sản xuất trái cây Long Định
- Tiền Giang ngày 25 tháng 08 năm 2009)

Mở đầu

Tiềm năng tăng hiệu quả sản xuất trái cây của Việt Nam nói chung và của Nam bộ nói riêng là rất lớn. Triển vọng khai thác tiềm lực này cũng rất lớn, vì đóng một vai trò đáng kể trong việc thực hiện Nghị quyết VII của Đảng về Tam Nông.

Về khoa học công nghệ, khâu giống cây trồng vẫn rất quan trọng, trong đó tổ chức quản lý và nhân cây giống là yếu nhất, vì chưa có biện pháp hiệu quả giảm thiểu đến lọai bỏ cây giống chất lượng xấu, cây không đúng giống, cây nhiễm bệnh, không đồng đều, cây giống trôi nổi không rõ nguồn gốc còn nhiều trên thị trường..Để có giống trái cây ngon là việc khó, nhưng giữ được đặc tính tốt của trái ngon trong sản xuất đại trà còn khó hơn nhiều. Về các lọai giống, thì giống bản địa, nhất là bản địa đặc sản có ưu thế vượt trội về chất lượng mà chưa được quan tâm đúng mức. Với sự giúp đỡ của Nhà khoa học, Nhà nông có công quyết định trong việc tuyển nhiều giống CAQ đặc sản, như giống bưởi Da xanh; xòai Cát Hòa Lộc; sầu riêng hạt lép Chín Hóa, Đồng Nai, Tiền Giang, 6 Ri; Thanh long Ruột đỏ Long Định 1, Ruột trắng Bình Thuận, Chợ Gạo Tiền Giang; vú sữa Lò rèn ở Vĩnh Kim Tiền Giang, vú sữa Bơ ở Lai Vung, Đồng Tháp.. Việc tạo chọn và tuyển chọn giống CAQ tốt để giới thiệu vào sản xuất đều đáng khích lệ. Nhiều đơn vị nghiên cứu đã tạo chọn và tuyển chọn nhiều giống CAQ, như Viện CAQ miền Nam được công nhận và phổ biến 6 giống CAQ, và 33 cây đầu dòng của hầu hết các chủng lọai phổ biến ở miền Nam..

Về kinh tế xã hội, vấn đề TAM NÔNG đã có Nghị quyết VII của TƯ Đảng năm 2008. Nhà nước đã có nhiều chính sách và chủ trương cụ thể hóa. Gần đây nhất là lãi suất vay vốn tín dụng đầu tư phát triển cho khu vực nông thôn là bằng 0%. Với xu thế này sẽ không còn tình trạng các nhà máy chế biến trái cây thừa công xuất, thiếu nguyên liệu là một biểu hiện cụ thể đầu tư không tương xứng giữa nông nghiệp và công nghiệp. Hiệu quả của vốn đầu tư , và vốn kích cầu sẽ làm tăng trưởng ổn định nếu đầu tư thỏa đáng cho xây dựng hạ tầng cơ sở vùng nguyên liệu, đầu tư nâng cao tay nghể cho người sản xuất trái cây, đầu tư vật tư kỹ thuật, nhất là cải thiện cây giống trái cây.

Vùng miệt vườn chuyên canh CAQ đặc sản như bưởi Xanh, sầu riêng hạt lép, vú sữa.. sẽ bao gồm những vườn đa canh trong hệ thống sinh thái kinh tế VAC. Thu nhập và đời sống người làm vườn tăng và ổn định là một trong những giải pháp tốt giảm thiểu tình trạng chặt trồng lắp đi lắp lại, mà yên tâm sản xuất lâu dài cây ăn quả chuyên canh trong vùng

Cần có nhiều đề tài nghiên cứu triển khai về kỹ thuật mà cả kinh tế xã hội, như hiệu quả kinh tế của xòai đặc sản Cát Hòa Lộc so với giống cao sản Ba mùa mưa hay xòai Bưởi; không chỉ tính hiệu quả một vài yếu tố, mà hiệu quả tích hợp nhiều họat động sản xuất trong VAC, có tác động của công nghệ sinh học, như nuôi trùn quế, công nghệ vi sinh EM (Effective Microorgan..), nấm xanh nấm trắng trừ sâu.. nhằm giảm thiểu đến không sử dụng phân hóa học và thuốc trừ sâu. Tỉnh Bặc Liêu và tỉnh Trà Vinh đã và đang thực hiện 3 dự án thuộc lọai tích hợp trên có kết quả tốt, nhưng mới chỉ trong mô hình, nông dân cần hỗ trợ mở rộng.

Cuộc Hội thảo “Tăng hiệu quả kinh tế vườn trong TAM NÔNG”, gồm có nội dung nghiên cứu và sản xuất trái cây hàng hóa, có nhiều báo cáo của các nhà khoa học, đan xen với những báo cáo của nông dân, sẽ được tổ chức tại Viện CAQ miền Nam vào 25/ 08/ 2009.

1. - Nông dân trong TAM NÔNG

1.1 - Nông dân- Chủ thể sản xuất kinh doanh

Hiện nay có đến khoảng 90% nông hộ sản xuất cá lẻ, số hợp tác đích thực chưa có là bao. Đã có nhiều nỗ lực đưa nông dân vào con đường sản xuất tập thể để giúp nông dân phát triển sản xuất, nhưng kết quả chưa được như ý muốn, có khi lại có kết quả trái ngược, như hồi hợp tác xã kiểu cũ. Hiệu quả của khoán 10 trong nông nghiệp thể hiện bằng sức sản xuất lương thực (lúa gạo) tăng đột biến, làm cho nước ta từ một nước nhập khẩu sang xuất khẩu lương thực đứng thứ nhì trên thế giới. Bởi vì, “khoán 10” đã đưa người nông dân trở về vị thế đích thực làm chủ sản xuất. Tổ chức hợp tác xã hay các hình thức tổ chức liên kết liên doanh với quy chế như thế nào giữ được quyền làm chủ sản xuất của nông dân, sự phát triển của tổ chức sản xuất trên cơ sở phát triển sản xuất của hộ nông dân, thế tất nông dân sẽ hưởng ứng. Kỳ vọng của chúng ta là có tổ chức sản xuất nông nghiệp như thế. Cuộc họp tổng kết các HTX NN vừa qua cho thấy số HTX làm ăn có hiệu quả còn ở mức rất khiêm tốn, trong số 100 HTX làm ăn tốt, thì chỉ có 15-16 HTX nông nghiệp, và đấy là các HTX không bị một sức ép nào ảnh hưởng đến quyền làm chủ của nông dân như nhận xét của một ký giả.

Đối với sản xuất quả rau hoa, yêu cầu kỹ thuật cũng như kỹ năng lao động cao hơn sản xuất lúa, thì càng cần tạo điều kiện thế nào để người nông dân thực sự làm chủ trong sản xuất kinh doanh. Nhiều người làm vườn có kỹ thuật tinh xảo, kỹ năng thành thạo đã trở thành những nghệ nhân khả kính, không chỉ với nghề trồng hoa cây kiểng, mà ngay cả với nghề trồng cây ăn quả lâu năm, như điều khiển bưởi da xanh ra hoa đúng vị trí trên cành, đúng thời vụ để có trái cây hàng hóa trái vụ, không có hạt mà vẫn giữ nguyên chất lượng, và “tắm” cho bưởi, không chạm tới phần rễ cây ăn nổi để cây phát triển lành mạnh.

1.2. - Nông dân- Đối tượng phải được phục vụ

Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và PTNT Hồ Xuân Hùng sau khi đi thăm Hàn Quốc và Nhật Bản về đã có nói: “Ta còn nợ nông dân nhiều quá”. Để trả nợ phải lấy công nghiệp nuôi nông nghiệp, với đô thị cũng vậy, và phải dựa vào nông thôn. Ts Đặng Kim Sơn, Viện trưởng Viện NC Chính sách và Chiến lươc NN cũng cho rằng chính nông dân đã làm cho nền kinh tế nước ta trụ vững như vừa qua trong cơn bão khủng hoảng kinh tế toàn cầu. Như vậy, nông dân ắt là “chủ nợ” của ta. Nhiều chuyên gia quốc tế, cũng cho rằng công nghiệp muốn phát triển bền vững phải hài hòa với sự phát triển của nông nghiệp. Có thể thấy rõ ngay là nông dân thiếu tiền mua công nghệ phẩm thì không phát triển được thị trường rộng lớn nông thôn của nông nghiệp, sẽ kìm hãm phát triển công nghiệp. Có nhà khoa học đưa ra 1 tỷ lệ tương đối: GDP công nghiệp gấp 4 làm GDP nông nghiệp là hợp lý. Ví như, GDP công nghiệp ở Việt Nam là 16%; nông nghiệp chỉ có 3,5%, là đầu tư cho nông nghiệp có vấn đề . Nghị quyết của Hội nghị TƯ VII về “Tam Nông” là giải pháp cơ bản khắc phục được tình trạng trên.

Tình trạng các nhà máy chế biến trái cây, cũng như các nhà máy đường thừa công xuất, thiếu nguyên liệu là một biểu hiện cụ thể đầu tư không tương xứng. Hiệu quả của vốn đầu tư và vốn kích cầu sẽ làm tăng ổn định nếu đầu tư thỏa đáng cho xây dựng hạ tầng cơ sở vùng nguyên liệu, đầu tư nâng cao tay nghể cho người sản xuất trái cây và người sản xuất mía, đầu tư vật tư kỹ thuật, nhất là cải thiện cây giống mía và giống trái cây.

Ở những nước phát triển, như Hàn Quốc, đầu năm 2001. Chính phủ đưa ra một loạt chính sách, dự án ưu tiên đầu tư công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông thôn, có mục đich chính là nâng cao mức sống của nông dân hơn là chú trọng phát triển sản xuất

1.3. - Nông dân- Đối tác hợp tác nghiên cứu và sản xuất kinh doanh

Sản xuất trái cây manh múm, tự phát, nên bộc lộ ra nhiều nhược điểm thể hiện ở nông sản hàng hóa có giá trị thấp mà giá thành lại cao. Các nông hộ sản xuất trái cây không đáp ứng được thị trường về cả số lượng lẫn chất lượng với độ đồng đều cao, và chủ động về thời gian giao hàng. Tổn thất trong thu hoạch lớn; tỷ lệ đưa vào chế biến thấp, khó khăn trong chuyển giao kỹ thuật vào sản xuất. Nhận xét trên của ông Chủ tịch Hiệp hội rau quả Đinh Văn Hương , cũng như đề xuất đúng của ông cần quy hoạch vùng sản xuất trái cây đặc sản.

Với trách nhiệm quản lý ngành, ông Cục trưởng Cục Trồng trọt Bộ Nông nghiệp và PTNT Nguyễn Trí ngọc cho rằng chúng ta hoàn toàn có thể khắc phục được những bất cập này, bằng triển khai đồng loạt những chính sách về giống, quy hoạch gắn với dự báo thị trường, sản xuất theo tiêu chuẩn an toàn VietGap.

Nội dung chỉ đạo của cơ quan chức năng, nhận xét thực trạng sản xuất trái cây của Hiệp hội Rau Quả đều chính xác, có lẽ không ai phủ nhận được. Vài thập kỷ trước đây cũng có những nhận xét và đề xuất tương tự, nhưng sản xuất vẫn manh múm, quy hoạch và chính sách tới nay hầu như vẫn dẫm chân tại chỗ. Trong sản xuất vẫn luôn xẩy ra tình trạng đào, lấp, chặt, trồng. Trái cây khi thì ế ẩm, khi thì chưa đạt đủ số lượng cung ứng cho thị trường. Cách nhìn thẳng vào sự thật trên mới có thể có giải pháp hữu hiệu trên cơ sở thực hiện nghiêm túc NQ VII về Tam Nông của Đảng ta năm 2008.

Để góp phần thực hiện Nghị quyết về tam nông, cần có thêm góc nhìn khác, góc nhìn từ phía hộ sản xuất nguyên liệu cho nhà máy, hàng hóa cho thị trường, bao gồm trái cây xuất khẩu vốn còn rất khiêm tốn, nhiều năm chưa đầy 10% (theo một thông tin gần đây tỷ lệ này khỏang 15-17%). Các giải pháp trên cơ sở từ góc nhìn vi mô nông hộ là điều cơ bản để thực hiện được quy hoạch, chính sách mang tính vĩ mô. Nếu vậy, muốn vậy, để phát triển ngành sản xuất kinh doanh quả rau hoa, trước hết phải quan tâm đến người sản xuất ra nông sản, mọi giải pháp công nghệ và biện pháp giống và kỹ thuật cần ưu tiên hướng vào việc trực tiếp nâng cao đời sống cho nông dân làm vườn.

Chúng tôi rất hoan nghênh đề xuất của Cục Trồng trọt về chính sách nâng giá đất ruộng lúa bờ xôi ruộng mật cao hơn giá đất nền nhà vài lần. Chúng tôi mong rằng giá đất vườn cũng được nâng lên tương ứng.

Để nâng cao mức sông ổn định cho người sản xuất, trong điều kiện hiện tại là đa dạng hóa sản xuất trong vùng miệt vườn chuyên canh theo hướng nâng cao hiệu quả kinh tế sinh thái VAC.

Từ lâu đã có “vườn đa canh”, nếu như trong đó có một vài loại cây ăn trái chính, như bưởi da xanh, sầu riêng cơm vàng hạt lép.., là ta có vùng chuyên canh cây bản địa đặc sản. Miệt vườn chuyên canh sẽ mở rộng để tăng sản lượng theo yêu cầu của thị trường.

Thật ra, cả vùng ĐBSCL là vùng chyên canh lúa gạo. Ông cha ta đã thực hiện đa dạng hóa cây trồng, đa canh trong VAC, trồng mầu luân canh hoặc chuyên canh trên đất rẫy cho thu nhập nói riêng và cho sự phát triển bền vững nói chung. Trong phạm vi phát triển kinh tế vườn theo hướng vùng chuyên canh những cây ăn quả đặc sản bản địa, bao gồm các vườn đa canh theo hướng hệ sinh thái kinh tế VAC đa canh. Việt Nam ta đâu có điều kiện như những nước qũy đất còn nhiều, như ở Úc, Ý.. có hàng chục, hàng trăm ha vườn cam, vườn lê, ..

2. - Nông thôn

2.1 - Hệ thống kinh tế sinh thái VAC thường nằm trong khuôn viên của làng xã, thôn, ấp có vai trò quyết định trong quá trình làm thay đổi bộ mặt nông thôn Việt Nam .

Từ lâu ông cha ta đã khuyến cáo: “Thứ nhất canh trì; Thứ nhì canh viên; Thứ ba canh điền”. Trong hệ thống VAC, chúng ta thực hiện được cả cả canh trì lẫn canh viên. Thu nhập từ 2 loại canh tác này có nhiều tiềm năng hơn hẳn làm ruộng (canh điền). Tuy ngiên, để an ninh lương thực, thì nghề trồng lúa vẫn quan trọng nhất

2.2. – Nông thôn Việt Nam có tiềm năng rất lớn trở thành nhiều điểm có những “sản phẩm” du lịch hấp dẫn, vì có môi trường sinh thái kinh tế xã hội lành mạnh, văn minh.

Với sự đóng góp của ngành sản xuất quả, rau, hoa, góp phần quan trọng đạt tiêu chí nông thôn mới ( ?, Dr Bảnh bổ xung), không chỉ xanh, sạch, đẹp, mà còn thơm mát, trong xanh, ẩm thực ngon lành, hấp dẫn khách du lịch trong và ngoài ngoài nước. Như vậy, ngành “công nghiệp không khói” sẽ phát triển, người nông dân sẽ tăng thu nhập trong hoạt động này mà không phải đầu tư năng lượng hóa thạch như sản xuất lúa và hoa màu.

Đờn ca tài tử, một sản phẩm hóa du lịch văn hóa độc đáo của Nam bộ. Nền văn hóa phi vật thể này xuất phát từ những miệt vườn Nam bộ, được gìn giữ trong các miệt vườn, và bắt đầu được hồi phục và phát triển cùng với sự phát triển kinh tế xã hội, cũng từ trong miệt vườn. Trong nhiều tua du lịch sinh thái đã có sản phẩm du lịch đờn ca tài tử mùi mẫm, như tua du lịch vùng 4 cồn Long, Ly, Quy, Phượng trên sông Tiền Giang. (Cửu Long là chốn thần tiên. Sông Tiền sông Hậu hiện lên nhiều cồn: Cồn Ly, cồn Phượng, cồn Long; Cồn Quy, cồn Ấu, cồn Công, cồn Cù; Cồn Chum, cồn Lọ, cồn Lu. Có đàn cò lượn tít mù cánh trao. Cồn Gió, cồn Lộng xôn xao, Cùng chim bắt nhịp sóng trào, triều dâng!)

2.3 – Về thương hiệu tiêu biểu cho Việt Nam

Gs Tom Cannon, nhà hoạch định kinh tế nổi tiếng thế giới, ông sang Việt Nam từ ngày 27/7 đến 4/8 vừa qua, ông có nhận xét: Việt Nam là một quốc gia có tiềm năng nhất ở châu Á về lĩnh vực phát triển. Ông khuyên Việt Nam cần có thương hiệu, ngay trong điều kiện đa số doanh nghiệp Việt Nam thuộc loại nhỏ. Hiện chưa có bất kỳ một thương hiệu nào tiêu biểu cho Việt Nam . Cần phát triển nhiều loại thực phẩm mới, có giá trị vượt trội so với thế giới.

Suy ngẫm về lời khuyên của Gs Tom Cannon (đã là cố vấn cho Singapore thời TT Lý Quang Diệu, cho Trung Quốc thời TT Chu Dung Cơ, cho Nga thời TT Putin, cho Anh thời TT Tony Blair; và cố vấn cao cấp cho 30 tập đoàn lớn xuyên quốc gia), về mặt nông nghiệp chúng tôi thấy chúng ta cũng có nhiều sản phẩm có thể lấy thương hiệu có uy tín quốc tế. Thương hiệu gạo Basmati của Ấn Độ và Nepan; gạo Khaodokmali của Thái Lan là từ giống bản địa được tuyển chọn từ thập kỷ 50 của thế kỷ trước.

Ở nước ta, có nhiều giống lúa từ tập đoàn giống bản địa phong phú có tiềm năng để nâng cao vị thế thành thương hiệu, như trong tập đoàn lúa Tám ỡ miền Bắc, như tập đoàn các giống Nàng hương, Nàng thơm chợ Đào. Với các giống cây ăn quả bản địa hiện chiếm 70-80% các giống CAQ được dùng trong sản xuất, có khá nhiều giống có chất lượng vượt trội so với các giống nhập nội. Một ví dụ, từ năm 1994, Viện CAQ miền Nam đã thu thập được 101 giống xòai, trong đó có 56 giống nhập nội và 45 giống bản địa. Thế nhưng, số lượng giống bản địa dùng trong suất ở các miệt vừôn luôn vượt trội, khác với rau và hoa. Như Viện CAQ miền Nam vừa nêu 8 giống xòai tiêu biểu, có 5 giống bản địa là xòai Cát Hòa Lộc đặc sản, Cát Chu, Thơm, Thanh Ca, và Ba mùa mưa hay xòai Bưởi; chỉ có 3 giống nhập nội là xòai Khiêu sa vơi, R2E2 và Yelow Gold, đều có phẩm chất thua xòai bản địa, và còn rất ít người biết đến. Cũng như vậy với Sầu riêng, hiện Viện CAQ MN giới thiệu 7 giống sầu riêng được công nhận và được phổ cập, thì chỉ có 1 giống nhập là giống Dona, hay Mongthon, chất lượng và đâu được ưa chuộng như các giống bản địa sầu riêng Cơm vàng hạt lép hay Sầu riêng Chín Hóa, sầu riêng Ri 6, sầu riêng hạt lép Đồng Nai, sầu riêng hạt lép Tiền Giang, sầu riêng Khổ qua xanh, sầu riêng SĐN46H.

Một ví dụ khác, hồi đầu thập kỷ 90 của thế kỷ trước, trong thời gian Viện Lúa ĐBSCL thực thi 1 Dự án UNDP, chúng tôi có mời 1 chuyên gia quốc tế về CAQ về làm việc 1 tháng, Dr Pairoj Polparasid, nguyên viện trưởng Viện CAQ Thái Lan. Dr Nguyễn Minh Châu, hồi đó là trưởng phòng khoa học và HTQT, được phân công theo chuyên gia này. Dr Paroj có nói nhiều lần với chúng tôi: xin đảm bảo giống bưởi 5 roi vào loại ngon nhất thế giới.

Sau này, khi thành lập Viện CAQ miền Nam mà Viện trưởng chính là Ts Nguyễn Minh Châu, Viện đã cùng nhiều địa phương phát hiện ra nhiều cây ăn quả bản địa đặc sản, như cùng tỉnh Bến Tre đã phát hiện ra ô Ba Rô ở Mỏ Cầy có cây tổ bưởi da xanh, và phát hiện ra chất lượng bưởi da xanh lại vượt trội hơn bưởi Năm roi. Viện Cây ăn Quả miền Nam cùng với các địa phương đã tổ chức hơn 20 hội thi trái cây từ sau 15 năm thành lập. Hình thức tổ chức Hội thi này góp phần đạt kết quả tốt, như lưu giữ được 49 chủng lọai, với 722 giống cây ăn quả trong điều kiện ngòai đồng có hợp tác với các nhà vườn Nam bộ, và giữ trong nhà lưới. Kết quả của những họat động này đến nay là: Viện được công nhận 6 giống và 33 dòng cây đầu dòng từ hầu hết chủng lọai cây ăn quả phổ biến ở miền Nam.

Có sự hỗ trợ nào đó của Nhà nước thì mới có thể xây dựng thương hiệu nhanh chóng hơn là người sản xuất, doanh nghiệp tự làm. Trong số các thương hiệu xây dựng, sẽ có thương hiệu trở thành tiêu biểu cho quốc gia, và trở thành một loại động lực cho sự phát triển

3. Nông nghiệp và sự đóng góp của ngành hàng trái cây

3.1- Trái cây với giống bản địa Việt Nam luôn vượt trội so với giống nhập nội.

Khi quan sát các sạp hàng, siêu thị.., chúng ta thấy có nơi có khi trái cây nhập nội chiếm lĩnh thị trường, nhưng thường chỉ giới hạn ở một số loài, như chôm chôm, bòn bon, dứa..Còn nhiều khi là trái cây bản địa, như xoài, bưởi, sầu riêng, vải, nhãn.., nhất là ở chợ quê, chợ nổi. Nhưng khi đến các nhà vườn, nhất là đến các miệt vườn cây ăn quả Nam bộ, phần lớn người làm vườn thường chọn giống cây bản địa để trồng, không chỉ do dễ trồng, dễ mua cây đúng giống, mà còn dễ bán ở những chợ gần chợ xa, đối với trái cây có thương hiệu cũng như chưa có. Vì hiện nay, nhiều trái cây nhập nội thua trái cây bản địa về chất lượng, như bưởi, sầu riêng, xoài, vải, nhãn.. Nếu liên hệ với nhiều loài cây trồng khác, như cây lúa với giống Tám xoan, Nàng thơm chợ Đào.., chúng ta có thể có lý giải mang tính thuyết phục cao: yêu cầu chặt với điều kiện khí hậu, thổ nhưỡng của các loài cây, nhất là đối với giống cây bản địa đặc sản.

Trong những dịp đi nước ngoài tham quan học tập nghiên cứu sản sản xuất cây trồng hiệu quả cao, tôi cũng thấy cũng như ở nước ta, họ chủ yếu dùng giống cây ăn quả bản địa, mặc dầu bạn có nhập một số giống bản địa của ta, như Thái Lan trồng khá phổ biến ổi xá lị, thanh long, bưởi da xanh.. Chủng loại giống cây ăn quả bản địa đang chiếm ưu thế về số lượng cũng như chất lượng đặc trưng. Ở các miệt vườn Nam bộ, tỷ lệ trồng giống bản địa áp đảo giống cây nhập nội, tới 70-80% và hơn, tựa như giống lúa cao sản tạo chọn trong nước ở ĐBSCL, hiện chiếm khoảng 80% diện tích.

Nhận xét của GsVs Trần Đình Long, Chủ tịch Hội Giống cây trồng VN về việc chọn tạo giống mới và nhân giống cây ăn quả, các loại rau, hoa là trên cơ sở những số liệu từ cơ quan chức năng: từ năm 1977 đến 2004 chỉ có 144 giống và cây đầu dòng được chọn tạo, trong đó có 35 giống rau các loại, 22 giống cà chua, 9 giống hoa, 6 giống nhãn, 4 giống vải, 7 giống cam, 5 giống xoài, 3 giống chôm chôm, 8 giống dưa hấu, và 12 các giống khác, như sầu riêng, măng cụt, khế, mận, táo, ổi, dứa. Thành tựu trên còn ở mức khá “khiêm tốn” so với khu vực và thế giới. Như vậy, ngành rau, hoa, quả (horticulture) chưa được quan tâm đúng mức từ phía Nhà nước, Nhà khoa học, và Nhà doanh nghiệp. Còn nông dân đâu có điều kiện làm được, mặc dầu họ là người lưu giữ trong vườn cây bản địa đặc sản từ nhiều năm, nhiều đời.

Khi khảo sát thống kê trong sản xuất thì thấy vấn đề có khác, vì có nhiều giống được công nhận, nhưng chưa được nông dân sử dụng. Giống rau bản địa bị “xói mòn” nhiều, như Ts Trần Thị Ba ở ĐHCT có nhận xét, có lẽ chỉ còn lại mấy cây như sả, gừng, riềng, còn đến 80- 90 % là giống rau nhập nội cho sản xuất hàng hóa. Nhiều loài rau bản địa có dược tính cao tuy chưa thành hàng hóa phổ biến, nhưng rất phong phú, có nơi là đặc sản, như: “Thiên lý nấu với cua đồng, Lờ lờ có kẻ mất chồng như chơi “, hay “Bông chuối gỏi thịt kỳ tôm, Coi chừng bà xã chôm chồng người ta”. Cũng như vậy đối với cây ăn quả bản địa, nếu có sự đầu tư đúng mức thì có thể tuyển chọn được nhiều cây đầu dòng hơn, có nhiều vật liệu di truyền hơn.

PGsTs Nguyễn Bảo Vệ đã nói đúng là thời gian tạo chọn giống cây ăn quả đòi hỏi hàng chục năm, như ở Nhật Bản mà chúng tôi có tới tham quan là 15 – 17 năm, mà thời gian đề tài/ dự án cây ăn quả dài ngày cũng như đối với cây ngắn ngày có vài ba năm là không hợp lý. Tuy nhiên, nếu đã có vật liệu di truyền đầy đủ, có điều kiện tạo chọn tốt, đã bắt đầu làm từ hàng chục năm, thì rồi năm nào cũng có thể giới thiệu giống mới. Như tôi biết, có những dự án về giống lúa với vốn cấp hàng tỷ đồng, thời gian dự án có vài năm. Với thời gian này nếu bắt đầu làm chỉ có thể ra được dòng. Nhưng thời gian dự án lại là hợp lý, vì chỉ dành cho nhà khoa học đã có quá trình làm, khi có dự án sẽ mở rộng phạm vi, đẩy nhanh tiến độ theo hướng đạt mục tiêu của dự án là có vài ba giống mới được công nhận. Và cứ thế, thế hệ tạo giống sau kế thừa thế hệ trước, chứ đâu có “chụp giật” được. Nhà khoa học có trách nhiệm xuất vấn đề, đề xuất đề tài/ dự án, chứ nay đâu có thiếu vốn cho nghiên cứu, năm nào cấp Nhà nước cũng như cấp tỉnh đều dư vốn nghiên cứu, mặc dầu thủ tục còn rươm rà.

Thăm một số cơ sở nghiên cứu rau hoa quả chính, tôi đều thấy những bước cơ bản của một quá trình tạo chọn giống đang được thực hiện, và đã giới thiệu ra sản xuất được nhiều giống tốt. Tại cơ sở chính ở tỉnh Phú Thọ của Viện Nghiên cứu Khoa học Kỹ thuật Nông Lâm nghiệp miều núi phía Bắc, ngoài những vườn giống cây ăn quả đặc sản đầu dòng rộng lớn, còn cả những vườn rau bản địa hoang dã dược tính cao, như cây rau bò khai chữa tiểu đường, dàn cây thuốc an thần lạc tiên bước đầu mang tính sản xuất hàng hóa..

Ở Trung tâm NC cây ôn đới Sa Pa của Viện trên có nhiều loài rau hoa quả ôn đới, như đào, lê, mận. Nghiên cứu sản xuất đang hướng tới thị trường, như mùa hè trồng rau ôn đới xu xu, cà chua, chuyển xuống đồng bằng thành trái vụ giá cao; nhiều loài hoa cao cấp ôn đới hiếm có, như gần trăm chậu hoa địa lan “Kiếm hồng hoàng” hoành tráng, có giá vài bốn chục triệu đ/ chậu.

Ở Viện Rau Hoa Quả Dâu tầm Trung ương đóng tại Châu Qùy Hà Nội, đã có nhiều tập đoàn với ba bốn trăm cây bản địa đầu dòng như chuối, đu đủ.., được quản lý tốt để tuyển lựa và tạo chọn giống mới. Hàng ngàn m2 nhà có điều khiển khí hậu đặt chậu phong lan với quy trình công nghệ cao cho hoa nở tập trung bán vào dịp Tết. Viện này đã chuẩn bị giới thiệu mạnh ra sản xuất một số giống mới do Viện tạo chọn, như cam không hạt đặc sản, giống hoa qúy.. và nhiều quy trình và kỹ năng, như quy trình sản xuất rau an toàn, kỹ năng cắt vòi hoa loa kèn cho nhị đực nhị cái dễ tiếp xúc nhau...

Viện Cây ăn quả miền Nam có trụ sở tại Long Định, Tiền Giang cũng có những vườn cây ăn quả đầu dòng đặc trưng của vùng như xoài cát Hòa Lộc, cam quýt, thanh long.., có cả một bệnh viện trái cây, có cơ sở tốt để đào tạo nông dân và khuyến nông viên. Viện này đã lai tạo thành công và đưa ra sản xuất một số giống thanh long ruột tím đỏ.

Còn khá nhiều cơ sở có nghiên cứu sản xuất quả rau hoa trong và ngoài hệ thống Nhà nước, như cơ sở của Gs Trần Quang Thạch và PGs Nguyễn Thị Trâm ở Đại học NN 1, của Ts Bùi Xuân Khôi ở miền Đông Nam bộ, của nhiều địa phương, của nghệ nhân ở Đà Lạt, ở tỉnh Bến Tre, Vĩnh Long, Đồng Tháp.. Nếu có đề tài/ dự án hay nguồn kinh phí nào đó quy tụ đội ngũ đông đảo nghiên cứu quả hoa rau, chắc chắn sẽ có hiệu quả kinh tế xã hội, ít nhất là có điều kiện học tập lẫn nhau.

3.2 - Để tăng hiệu quả sản xuất trái cây, ngoài việc lo cho mức sống của người sản xuất được tăng ổn định, thì cây đúng giống đang là vấn đề có mức độ bức xúc nhất cho sản xuất trái cây hàng hóa, hơn loại giống.

Bởi vì, đã có sẵn nhiều loài bản địa đặc sản được chuyên gia quốc tế xếp vào hàng đầu, phù hợp với nhận xét của người tiêu dùng trong nước. Ở vùng miền nào cũng có giống trái cây đặc sản nổi tiếng, như bưởi Đoan Hùng, cam Bố Hạ, cam xã Đoài, chuối Ngự Huế, chôm chôm Đồng Nai, dừa sáp Cầu Kè, xoài cát Hòa Lộc, .. Trách nhiệm chính xây dựng hệ thống nhân giống cho sản xuất là địa phương và doanh nghiệp, để loại trừ giống dởm bán trôi nổi. Cần có đúng giống đủ để bán kịp thời bán cho người trồng. Các cơ quan nghiên cứu, như Viện CAQ miền Nam , Viện Rau hoa quả TƯ.. đã quan tâm đến sản xuất những cây giống đầu dòng, như cần sản xuất được nhiều hơn để lưu thông trong màng lưới nhân giống của Viện kết hợp với cơ quan chức năng địa phương, và màng lưới nông dân làm vườn giỏi.

3.3 - Cần tôn vinh hơn nữa những nông dân phát hiện trong sản xuất và giữ được cây tổ đặc sản lâu năm, truyền đời,

như cụ Mười Tước giữ bưởi Năm doi ở Vĩnh Long bắt đầu nổi tiếng từ thập kỷ 20 của thế kỷ trước. Vào cuối thập kỷ 90, bưởi da xanh ngon hơn bưởi 5 doi được phát hiện ở vườn ông Ba Rô ở xã Thanh Sơn, huyện Mỏ Cày. ông Chín Hóa giữ giống sầu riêng hạt lép ở chợ Lách, Bến Tre..

Thật không công bằng nếu như bỏ qua những chuyên gia phát hiện ra những nông dân trên, giúp họ cải thiện kỹ thuật, rồi tổ chức quảng bá ra sản xuất, do đó nhiều nông dân có giống cây tổ từ diện nghèo khổ nhà lá thành tỷ phú nhà đúc khang trang do bán cây giống. Trong phạm vi bài này, xin được vinh danh 2 vị: Chủ tịch Hội Làm vườn VN Nguyễn Ngọc Trìu đến tuổi 80 mà hầu như mỗi năm đi hàng tháng trời đến các vùng miền gặp gỡ những nông dân như trên, kết hợp với việc củng cố và phát triển hệ thống tổ chức Hội VAC. Chủ tịch có thể nói hàng buổi phổ biến kinh nghiệm sản xuất trái cây từ những kỹ thuật, kỹ năng đúc kết được. Người thứ 2 là Ts Nguyễn Minh Châu viện trưởng Viện CAQ miền Nam .

Ts Châu cùng với các chuyên gia của Viện đã đến nhiều miệt vườn phát hiện những nông dân có cây tổ, giúp nông dân hoàn chỉnh kỹ thuật, và làm nhiều việc khác mới phát huy được cây giống, làm cho nhiều nông dân giàu có, mà không nhận một chút gì cho mình. Trước đó, ngay người có trồng cây đó trong vườn nhà mình mà cũng không biết, nên vẫn nghèo khổ. Đồng thời, những chuyên gia cùng cán bộ địa phương trên cùng với nông dân hoàn thiện nhiều kỹ thuật, kỹ năng, như trồng ổi xen trong vườn cam quýt để đuổi rầy chổng cánh truyền bệnh virus vàng bạc, cách chọn cành tỉa lá cho bưởi da xanh ra trái vụ, dùng dụng cụ đơn giản chụp chùm nụ hoa bưởi cho đến khi hình thành quả non để có bưởi không hạt.. Có lẽ, Viện CAQ miền Nam nặng về “hữu xạ tự nhiên hương”, mà không thấy được rằng quảng bá kỹ thuật cũng là nhiệm vụ của Viện và để có hiệu quả hơn với sản xuất.

Nguyễn Văn Luật
(Bài do tác giả gửi)

Mời bạn cùng lên đường!

Mời bạn cùng lên đường!